Monday, October 10, 2016

HƯỚNG DẪN THIỀN NIỆM HƠI THỞ (Buổi thứ 3 – Ngày thứ Sáu 10/7/2009)



Chùa TAM BẢO
323 Phan Chu Trinh
Mùa An cư - Phật Lịch 2553 (Dương Lịch 2009)
HƯỚNG DẪN THIỀN NIỆM HƠI THỞ (Buổi thứ 3 – Ngày thứ Sáu 10/7/2009)
Do Ngài Hoà Thượng Pháp Sư - Đại Thiền Sư ASHIN KOVIDA
Thiền Lâm Viện Pa-Auk - Tiểu Bang Mon – Mawlamyine – Myanmar


Câu Hỏi 9: Kính Xin Ngài giảng giải cho con thật rõ về câu kinh Pháp Cú này: “Ai sống một trăm năm, không thấy Pháp Sanh diệt, chẳng bằng sống một ngày thấy được Pháp Sanh diệt”. Pháp sanh diệt là ở tầng nào trong các tầng thiền? (Cô Nguyễn thị Hồng)

Trả Lời:
Yo ca vassasataṃ jīve, apassaṃ udayabbayaṃ;
Ekāhaṃ jīvitaṃ seyyo, passato udayabbayaṃ.

Người sống một trăm năm, Một năm có 365 ngày, 10 năm có 3650 ngày, 100 năm có 36500 ngày. Trong thế gian này có những người có tuổi thọ 100 năm. Tuổi thọ 100 năm nghĩa là tuổi thọ dài cả 3650o ngày, có những người có tuổi thọ như vậy. Nếu đem so sánh giữa người sống thọ trăm năm nhưng không thấy được các Pháp sanh diệt, không bằng những người hành thiền trong một ngày và thấy được các Pháp Sanh Diệt.  

Tuệ sinh diệt và Nhập các tầng thiền là khác nhau.
Udayabbayañāṇa, Tuệ sinh diệt thuộc Tuệ Minh Sát (Vipassanāñāṇa)
Nhập các tầng thiền (Samādhi) thuộc Định. Định và Minh sát là khác nhau.

+ Khi nhập Thiền hay khi có Định (có 5 thiền chi):
1.    Vitakka: Tầm
2.    Vicāra: Tứ
3.    Pīti: Hỷ
4.    Sukha: Lạc
5.    Ekaggata: Nhất tâm
6.     
Một người khi đang trong 5 thiền chi này thì gọi là nhập Thiền (Sơ Thiền).
+ Còn thấy sự sanh diệt của Danh Pháp và Sắc Pháp thì gọi là Tuệ sanh diệt.

+ Thấy được sự sanh diệt nhanh như thế nào?
Khi một ánh sáng chiếu qua khung cửa, trong ánh sáng đó có những hạt rất nhỏ. Những hạt này gọi là những hạt Tajjārī                    (Nhóm sắc Tajjārī).
Một  hạt tajjārī gấp 36 lần hạt aṇu.              (Nhóm sắc aṇu)
Một hạt aṇu gấp 36 lần hạt paramāṇu.         (Nhóm sắc paramānu-nguyên tử atom)
Tajjārī, aṇu, paramāṇu đều được gọi là các tổng hợp sắc rūpakalāpa, (Chữ Pāḷi Kalāpa có nghĩa là nhóm, rūpa có nghĩa là sắc) tổng hợp sắc nhỏ nhất là paramāṇu (nguyên tử).


Khi một người hành thiền (đến giai đoạn), không còn thấy các hình dạng thân phần của thân thể nữa, mà chỉ còn thấy được các nhóm sắc tụ (rūpakalāpa) này. Cho đến khi thấy được nhiều nhóm sắc tụ nhỏ Paramāṇu, hành giả sẽ thấy trong mỗi nhóm sắc tụ Paramāṇu  lại có  Pathāvī (Đất), Āpo (nước), Tejo (Lửa), Vāyo (Gió)… nữa. Khi quán sát những nguyên tử Paramāṇu này vị ấy chỉ thấy các đặc tính cứng hoặc mềm (Đất), chảy hoặc dính (Nước), nóng hoặc lạnh (thuộc Lửa), nâng hoặc đẩy (Gió). Như vậy hành giả chỉ còn thấy được những đặc tính riêng biệt này mà thôi.
 
Trong khi phân biệt các đặc tính riêng biệt của Tứ đại, thì các nhóm sắc tụ Paramāṇu không thấy nữa. Hành giả chỉ thấy được những đặc tính riêng biệt này và thấy được cả sự xuất hiện (sanh) và biến mất (diệt) của các đặc tính đó thôi. Thấy được các nhóm sắc đó sanh diệt rất nhanh, hết nhóm sắc này đến nhóm sắc khác. Hành giả chỉ còn quán sát sự sinh diệt liên tục cực kỳ nhanh của các nhóm sắc này như một đặc tính. Sanh-Diệt, Sanh-Diệt, Sanh-Diệt… Nếu quán được sự sanh diệt như vậy, gọi là Tuệ Sanh Diệt (Udayabbayañāṇa), – Hay còn gọi là Tuệ Minh Sát (Vipassanāñāṇa

  
Câu hỏi 10: Bạch Ngài có câu hỏi này: “Cho rằng tu Thiền Quán là đắc được Đạo quả, vị này không tu qua Thiền Định bao giờ mà tu Thiền Tuệ, vậy có đắc được Đạo Quả không? (Chú Trực).

Trả lời:
Trong việc thực hành Thánh Pháp, 8 Chi Chánh Đạo (Bát Chánh Đạo) hay Đạo Đế (Maggasacca) , phải thực hành một Đạo chi là Chánh Định (Sammāsamādhi).

Khi thành tựu được 8 Chi Chánh Đạo này thì Tuệ Minh Sát (Vipassanāñāṇa) sinh khởi. Khi Tuệ Minh Sát sinh khởi thì Đạo Tuệ (Maggañāṇa) và Quả Tuệ (Phalañāṇa) cũng đạt được.

Để Tuệ Minh Sát sanh khởi cần phải có Chánh Định “Sammāsamādhi”, Chánh Định thuộc Phần Định.

Để Tuệ sinh khởi, trước hết cần phải thiết lập Samādhi (Định). Không có Định thì không có Tuệ.

          Pāḷi: Katamā ca bhikkhave sammāsamādhi?

Dịch nghĩa: Này chư Tỳ khưu, Chánh Định là gì?”

Chính Đức Phật Ngài đã hỏi Chư Tỳ khưu và cũng chính Ngài trả lời:
“Pathamajhānaṃ dutiyajhānaṃ tatiyajhānaṃ catutthajhānaṃ upasampajja viharati. Ayaṃ vuccati sammāsamādhi”

Ngài đã trả lời rằng: Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền, Tứ Thiền gọi là Chánh Định.
Nếu không thể hành thiền để đạt Định, người ấy có thể nổ lực hành thiền để đạt cận định hoặc phiến thời Định “Khaṇikasamādhi”. Phiến Thời Định “Khaṇikasamādhi” này cũng nằm trong Samatha mà thôi.

Để đạt được Thiền (Jhāna), Đạo (Magga), Quả (Phala), mỗi khi nổ lực hành thiền có những triền cái (những pháp che án, cản trở) cần phải được loại trừ.

Khi các triền cái ngưng bặt - đạt Định
Định đạt – Thì đạt Tuệ
Tuệ đạt thì đạt Đạo Tuệ - Quả Tuệ.
“Samāhito bhikkhave yathabhūtaṃ pajānāti” (Đức Phật)
Có Định, này Chư Tỳ Kheo, sẽ thấy được các Pháp như thật, (Có Định, biết rõ như thật trí) – Tương Ưng Sự Thật.

Nīvaraṇa = Triền cái, những pháp cái che án, cản trở con đường đến Thiền, Đạo, Qủa.
1.    Kāmachandanīvaraṇa      Tham dục pháp cái
2.    Byāpādanīvaraṇa            Sân hận pháp cái
3.    Thinamiddhanīvaraṇa      Muội lược, hôn trầm, thuỵ miên Pháp cái
4.    uddhaccakukkucca          phóng dật, trạo cử
5.    vicikiccha                        hoài nghi, tin hay không tin
+   Avijjā                             không biết đúng đắn

Nói tóm lại: Cần Phải thực hành Định.


Câu hỏi 11: Trong các việc Thiện, Thiền là thiện nhất phải không? (Chú Trực)
Trả lời:
Trong các việc thiện, Nổ lực hành thiền, Thính Pháp, Bố thí Pháp, Thuyết Pháp, bố thí Kinh Sách, Mời Thiên-Nhân nghe Pháp, những việc Thiện này là thiện nhất: Đúng vậy.
Sabbadānaṃ dhammadānaṃ jināti.
Dịch nghĩa: Pháp thí thắng mọi thí
Còn nữa:
Amataṃdado ca so hoti
Yo dhamme anusāsati (Devatāsamyutta – Tương Ưng Thiên Tử)
Dịch nghĩa: Người nào bố thí Pháp, người ấy bố thí Níp-Bàn.
Người nào chưa chứng ngộ Níp-Bàn, nhưng người ấy bố thí Níp-Bàn, đấy là bố thí cao thượng nhất, bố thí không thể sánh bằng.


Câu hỏi 12: Chúng ta phải học Pháp Học rồi Qua Pháp Hành phải không? (Chú Trực)
Trả lời:
Sutamaya              Nghe, đọc, mà biết                             (văn trí)
Cintamaya             Suy nghĩ, tư duy mà biết                                        (tư trí)
Bhāvanāmaya       thực hành, hành thiền tiến đạt mà biết                  (tu trí)

Trong 6 Ân Đức Pháp có:
Ehipassiko = Pháp mời gọi Đến để học, đến để quan sát, đến để hành.

Đức Phật tán dương sự hiểu biết có được thông qua thực hành.
Có Vị Tam tạng Trưởng Lão Pháp sư Poṭṭhila đang dạy cho Đồ chúng gồm 500 vị Tỷ kheo. Đức Phật gọi: “Moghapoṭṭhila Tuccapoṭṭhila”. Nghĩa là Này Poṭṭhila vô dụng - Đức Phật đã gọi như vậy vì vị ấy chỉ có học lòng Tam tạng mà không hành.

Đại Đức Cūḷapala, trong suốt 3 tháng Hạ không thuộc nổi một bài kệ, khi Đức Thế Tôn trao cho ông một đề mục xong, ông tiến hành thiền và chứng Alahán quả cùng thần thông. Học hỏi và Hiểu biết qua việc thực hành thì tốt hơn. Việc thực hành có thể chứng đạt được các loại trí Yathābhūtañāṇa (Như thị trí) – Bhāvanāmayañāṇa (Tiến Đạt Trí).
Kiến thức đạt được trong cuộc sống tốt hơn là học suông.

Attapaccakkha – trí do tự mình đúng thời biết được, có thể đạt được Đạo – Quả Tuệ.


Sādhu! Sādhu! Lành thay!
(Dứt buổi 3)