Quán về ngũ
uẩn
Thực tập
quán chiếu về sự bám víu vào ngũ uẩn và sự ràng buộc của các nội ngoại xứ là những
bước thực tập chính yếu trong quá trình quán niệm về các đối tượng của tâm thức.
Lãnh vực đầu tiên của ngũ uẩn là sắc. Tự mình quán niệm như sau: "đây là
hình sắc, đây là sự phát sinh của hình sắc, đây là sự hủy diệt của hình sắc".
Sắc ở đây có
nghĩa là thân xác, do tứ đại đất nước lửa gió hợp thành, trong đó có gan, tim,
máu, mủ, hơi thở, nhiệt... Khi xác thân bị hủy diệt, các cấu thể từ thân xác trở
về với vũ trụ. Không có sự thêm. Không có sự bớt. Không có sự được. Không có sự
mất. Hãy quán chiếu: "năm uẩn như mây bay qua rồi bay lại". Hãy chú
tâm quán sát về quá trình sinh khởi và hoại diệt của hình sắc. Tất cả mọi vật
thể đều không có tự tánh riêng biệt. Tất cả đều không. Như thiền sư Shunryu
Suzuki đã nhận định: "cái mà chúng ta gọi là "tôi" chỉ là cánh cửa
đong đưa đang di động khi chúng ta hít vào và khi chúng ta thở ra".
Nếu như thân
xác một mai bị tan hoại, tim gan gởi về cho đất, hơi thở gởi về cho gió, sức
nóng trong cơ thể gởi về cho lửa, mủ máu gởi về cho nước... rồi thì thân xác
đây không còn gọi là thân xác nữa. Ðó là sự tan rã của hình sắc. Tất cả và tất
cả đều không có tự tánh. Mọi sự việc đều vô thường biến đổi. Ðó là bản chất thật
của cuộc đời. Có bên ngoài tâm trí hay bên trong tâm trí ta. Không có gì thêm,
không có gì bớt. Tất cả chỉ là sự biến dịch và trở về. Với sự hành thiền tinh
chuyên pháp niệm thân, có thể đạt được sự hiểu biết lớn về tánh không, khổ và
vô ngã của sắc uẩn.
Lãnh vực thứ
hai trong ngũ uẩn là thọ. Tự mình quán niệm như sau: "đây là cảm thọ, đây
là sự phát sinh của cảm thọ, đây là sự hủy diệt của cảm thọ".
Như đã trình
bày nơi phần niệm thọ, cảm thọ là những xúc cảm thọ nhận, gồm các cảm giác dễ
chịu, khó chịu, không dễ chịu cũng không khó chịu. Cảm thọ phát khởi do sự tiếp
xúc của sáu căn với sáu trần. Sáu căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Sáu trần
là hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, xúc chạm và tư tưởng. Mắt thấy sắc
màu nên sinh mến chuộng, tai nghe tiếng chửi nên sinh buồn khổ, mũi ngửi mùi
hôi nên sinh khó chịu, lưỡi nếm vị ngọt nên sinh ưa thích, thân xúc chạm vật thể
nên sinh mến yêu, ý khởi niệm phiền lo nên sinh sợ hãi. Với sự hành trì pháp niệm
thọ thật tinh chuyên và đúng phương pháp, ta có thể đạt được sự hiểu biết lớn về
tánh vô thường, khổ và vô ngã của thọ uẩn.
Riêng trong
pháp hành thiền tứ niệm xứ, không cần dùng đến óc suy nghiệm (chiếu kiến) để
phân tích tự tánh không của ngu uẩn như trong Bát nhã tâm kinh (Ngài Quán tự tại
bồ tát thực hành sâu xa trí tuệ bát nhã, ngài soi thấy năm uẩn đều không, liền
vượt qua tất cả mọi khổ nạn - Tâm kinh).
Ở đây, ta chỉ
cần tỉnh biết sáng suốt và ghi nhận rõ ràng về từng cảm giác đang thọ nhận ngay
lúc nó phát sinh, tăng trưởng, suy yếu, cho đến khi bị hủy diệt. Như khi nhận
biết mình đang có một cảm giác sợ hãi thì ngay đó sự sợ hãi đã bị giảm suy bởi ảnh
hưởng của sự định tỉnh có được từ hơi thở ý thức. Ta khách quan quán sát và ghi
nhận sáng suốt về sự kiện để trực nghiệm bản chất vô thường và tánh không của cảm
thọ, để không còn bám víu vào những phù du ngũ uẩn trong cuộc đời.
Lãnh vực thứ
ba trong ngũ uẩn là tưởng. Tự mình quán niệm như sau: "đây là tri giác,
đây là sự phát sinh của tri giác, đây là sự hủy diệt của tri giác".
Tưởng có
nghĩa là tri giác, tức sự nhận biết của các giác quan, phát sinh từ sự tiếp xúc
của sáu căn với sáu trần.
- mắt thấy
hình sắc
- tai nghe
âm thanh
- mũi ngửi
mùi hương
- lưỡi nếm
các vị
- thân xúc
chạm vật thể
- ý biết các
tư tưởng
Do có mắt và
hình sắc, mắt tiếp xúc với hình sắc mà phát sanh sự nhận biết về cái thấy. Do
có tai và âm thanh, tai tiếp xúc với âm thanh mà phát sanh sự nhận biết về cái
nghe. Do có mũi và mùi hương, mũi tiếp xúc với mùi hương mà phát sanh sự nhận
biết về cái ngửi. Do có lưỡi và vị nếm, lưỡi tiếp xúc với vị nếm mà phát sanh sự
nhận biết về cái nếm. Do có thân và vật thể, thân tiếp xúc với vật thể mà phát
sanh sự nhận biết về sự xúc chạm. Do có tâm ý và tư tưởng, tâm ý tiếp xúc với
tư tưởng mà phát sanh sự nhận biết về các ý niệm.
Ta quán sát
và ghi nhận đây là tri giác, đây là sự phát sinh của tri giác, do bởi có mắt,
tai, mũi, lưỡi, thân, ý tiếp xúc với hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, xúc
chạm, tư tưởng mà có được sự nhận biết của tri giác.
Lãnh vực thứ
tư trong ngũ uẩn là hành. Tự mình quán niệm như sau: "đây là sự vận hành
tâm tư, đây là sự phát sinh của sự vận hành tâm tư, đây là sự hủy diệt của sự vận
hành tâm tư".
Hành có
nghĩa là tâm tư, tức sự vận hành lưu chuyển của các luồn tư tưởng phát khởi và
diễn biến liên tục trong tâm thức. Dòng suy tưởng không bao giờ ngừng nghỉ. Hết
ý niệm nầy đến suy tưởng khác. Vừa nghĩ đến ý tưởng nầy thì ý tưởng kia đã tan
biến. Vừa nghĩ đến ý tưởng nọ thì ý tưởng kia đã lặn chìm. Ðây là sự phát sinh
của tâm tư. Ðây là sự hủy diệt của tâm tư. Những niệm tưởng nghĩ suy sinh sinh
diệt diệt vô cùng tận.
Hành trì
pháp niệm tâm nghiêm mật và đúng phương thức, có thể đạt được sự hiểu biết lớn
về tánh vô thường, khổ và vô ngã của tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn.
Lãnh vực thứ
năm trong ngũ uẩn là thức. Tự mình quán niệm như sau: "đây là ý thức phân
biệt, đây là sự phát sinh của ý thức phân biệt, đây là sự hủy diệt của ý thức
phân biệt".
Thức có
nghĩa là ý thức hiểu biết phân biệt về sự việc. Thức phát sinh do sự tiếp xúc của
sáu căn với sáu trần. Tất cả bao gồm có sáu loại:
- nhãn thức
(sự phân biệt của mắt)
- nhĩ thức
(sự phân biệt của tai)
- tỷ thức (sự
phân biệt của mũi)
- thiệt thức
(sự phân biệt của lưỡi)
- thân thức
(sự phân biệt của thân)
- ý thức (sự
phân biệt của ý)
Khi mắt nhìn
thấy hình thể vật sắc, tâm có sự nhận biết về hình sắc (tưởng) và có sự phân biệt
đẹp xấu trắng đen (thức).
Khi tai nghe
thấy một tiếng động, tâm có sự nhận biết về âm thanh (tưởng) và phân biệt loại
âm thanh gì, lớn nhỏ, ồn náo hay dễ chịu (thức). Khi mũi ngửi thấy mùi hương,
tâm có sự nhận biết về mùi hương (tưởng) và có sự phân biệt thơm hôi (thức).
Khi lưỡi nếm
mùi vị, tâm có sự nhận biết về mùi vị (tưởng) và phân biệt mặn ngọt hay đắng nồng
ra sao (thức). Khi thân có sự sờ chạm vào một vật thể, tâm có sự nhận biết về sự
xúc chạm (tưởng) và có sự phân biệt vật đó là vật gì, lớn hay nhỏ, mềm hay cứng
(thức). Khi tâm ý sinh khởi một ý tưởng, tâm có sự nhận biết về ý niệm (tưởng)
và phân biệt ý niệm đó tốt hay xấu, thiện hay ác (thức).
Ta khách
quan quán sát và ghi nhận "đây là năm uẩn" "đây là sự phát sinh
của năm uẩn" "đây là sự hủy diệt của năm uẩn", do bởi có mắt,
tai, mũi, lưỡi, thân, ý (sáu căn) tiếp xúc với hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị
nếm, xúc chạm, tư tưởng (sáu trần) mà có sự nhận biết của tưởng, có sự lưu chuyển
tâm tư của hành, có sự phân biệt của thức.
Từ sự quán
sát khách quan về ngũ uẩn, ta ghi nhận về sự ràng buộc của sáu căn và sáu trần,
để soi thấu bản chất vô thường vô ngã của sáu nội ngoại xứ, để không còn bám
víu chấp chặt vào năm uẩn.