THIỀN MÀ KHÔNG CÓ CHÁNH KIẾN
Vì hầu hết thiền giả (kể cả những thiền giả thiền tập hàng chục năm) đều từng đối diện với nó. Có rất nhiều lý do khiến “Tham - Sân - Si - Ganh tị” vẫn còn đó dù đã ngồi thiền, tụng kinh, giữ giới rất lâu. Dưới đây là những nguyên nhân chính, thiền giả sắp xếp theo mức độ phổ biến nhất mà thiền giả quan sát được từ chính mình và từ rất nhiều thiền giả khác:
Thiền mà không có Chánh kiến (kiến thức đúng về thực tướng các pháp)
Ngồi được 10-20 năm nhưng vẫn hiểu sai Phật pháp: cho rằng “diệt tham - sân - si” là đè nén, chối bỏ, hoặc phải trở thành một người không bao giờ giận, không bao giờ muốn gì.
→ Kết quả là vừa đè nén vừa tự phán xét bản thân, càng đè càng sinh lực phản kháng ngầm, phiền não càng mạnh hơn.
TU TẬP THIẾU TÀM VÀ QUÝ (SỢ HÃI LÀM ĐIỀU XẤU VÀ XẤU HỔ KHI LÀM ĐIỀU XẤU)
Nhiều người thiền tập lâu nhưng vẫn tự cho mình là “đặc biệt”, vẫn biện minh cho tham - sân - si của mình (“tại người ta tệ quá nên mình mới giận”, “mình thiền tập lâu rồi nên được quyền…”). Khi không còn tàm quý thì giới luật và thiền chỉ là hình thức.
Không thực sự Buông - chỉ đang “quản lý” phiền não
Thiền giả thường học cách “khéo léo” với tham - sân - si thay vì thực sự buông bỏ gốc rễ. Ví dụ:
Tham tiền → chuyển thành tham pháp, tham danh thiền sư, tham học trò đông…
Sân → chuyển thành “sân vi tế”: khó chịu, phê phán ngầm, nói bóng gió…
Ganh tị → chuyển thành ganh tị “cao cấp”: ganh với người chứng ngộ cao hơn mình.
KHÔNG ÁP DỤNG CHÁNH NIỆM VÀO ĐỜI SỐNG HÀNG NGÀY (CHỈ CHÁNH NIỆM TRÊN TỌA CỤ)
Ngồi thiền thì tỉnh, xuống tọa cụ thì lại bị cuốn theo tám ngọn gió đời (lợi-suy, khen-chê, vinh-nhục, khổ-lạc). Cuộc sống ngoài giờ thiền vẫn đầy tranh giành, so đo, bảo vệ cái tôi → phiền não được tưới tẩm liên tục 16-20 tiếng/ngày, chỉ “nghỉ” vài tiếng trên tọa cụ thì làm sao hết được.
Thiếu Thầy lành bạn tốt, hoặc có nhưng không thực sự tin sâu sắc và chịu nghe lời chỉ dạy.
Có người thiền tập 30-40 năm nhưng không có ai dám nói thẳng vào mặt khi mình còn tham - sân. Hoặc có người chỉ nhưng mình không chịu nghe vì tự ái → không có ai giúp gọt dũa cái ngã.
THIỀN TẬP VỚI ĐỘNG CƠ KHÔNG TRONG SẠCH TỪ ĐẦU
Nhiều người thiền tập vì: chạy trốn khổ đời, muốn có thần thông, muốn được kính trọng, muốn chứng quả để chứng minh mình hơn người… Động cơ đã có ngã mạn và tham rồi thì phiền não chỉ thay hình đổi dạng chứ không mất.
Không hiểu rằng Tham - sân - si là tập khí nhiều đời, không thể “ diệt xong” trong một đời nếu không thực sự quyết liệt thay đổi.
Có người thiền tập rất giỏi, nhưng vẫn chấp nhận sống chung với một ít phiền não vi tế (kiêu mạn vi tế, tham danh vi tế…) và nghĩ rằng “đến A-la-hán cũng còn dư tàn vô minh”. Đó là tự an ủi để không cần nỗ lực thêm nữa.
THIẾU LÒNG TỪ BI THỰC SỰ VỚI CHÍNH MÌNH
Càng thiền tập lâu càng tự đè nén, tự ghét bản thân vì còn phiền não → tạo thêm một lớp sân hận hướng nội. Khi không thương nổi chính mình thì không thể thương người, và phiền não lại có đất sống.
TÓM LẠI MỘT CÂU NGẮN GỌN NHẤT:
“Thiền tập lâu mà phiền não chưa hết thường là vì vẫn còn đang bảo vệ cái tôi một cách rất tinh vi.”
Người thực sự tiến thì dù mới thiền tập 2-3 năm đã thấy tham - sân - si biết mất rất nhiều, còn người thiền tập 30 năm mà vẫn còn đầy ganh tị, khó chịu, hơn thua… là vì họ chưa thực sự thiền tập - họ chỉ đang “giữ đạo” hoặc “luyện thiền” chứ chưa buông cái ngã.
Đó là chìa khóa của hầu hết các trường hợp “thiền tập lâu vẫn chưa hết tham - sân - si”.
Khi cái tôi còn được bảo vệ (dù rất tinh vi, rất “tâm linh”), thì phiền não chỉ đổi áo mới chứ không chết. Một vài hình thức bảo vệ cái tôi cực kỳ tinh vi mà thiền giả tập lâu thường mắc phải:
BẢO VỆ BẰNG “TÁNH KHÍ CÁ NHÂN”
“Tôi nóng tính từ nhỏ, tôi thẳng tính, tôi là vậy đó.”
→ Thực chất là không muốn sửa sân.
BẢO VỆ BẰNG “TRÌNH ĐỘ TU HÀNH”
“Tôi đã chứng sơ quả / nhị quả / tôi thiền tập 30 năm rồi”
→ Dùng quả vị (thật hay tưởng tượng) để không ai dám góp ý, không cần sửa nữa.
BẢO VỆ BẰNG “ĐẠO HẠNH BỀ NGOÀI”
Ăn chay trường, giữ giới nghiêm, mặc áo tràng đẹp, nói năng nhẹ nhàng… → bên trong vẫn đầy ganh tị, vẫn khó chịu khi bị đụng cái tôi, nhưng người ngoài không thấy được.
BẢO VỆ BẰNG “TRI KIẾN TÔI HIỂU BIẾT”
“Phiền não tức bồ-đề mà”, “có sân mới biết sân”, “tất cả là không”…
→ Dùng cái tôi hiểu biết để biện minh, để không cần thực sự buông.
BẢO VỆ BẰNG “TỪ BI GIẢ DỐI”
Không dám nói thật với người khác vì sợ mất hình ảnh “hiền lành, từ bi”. Kết quả là nuốt giận vào trong, rồi sân hận ngầm càng ngày càng lớn.
BẢO VỆ BẰNG “SỰ KHIÊM HẠ GIẢ DỐI”
Luôn nói “tôi còn kém lắm, tôi chưa chứng gì hết” nhưng trong lòng vẫn muốn người khác công nhận mình thiền tập giỏi, vẫn buồn khi bị nói còn đầy phiền não.
Càng thiền tập lâu, cái tôi càng khôn ngoan: nó không còn thô thiển như ngày mới thiền tập nữa, nó mặc áo cà-sa, nó biết nói pháp, nó biết mỉm cười khi bị chạm, nó biết nói “tất cả là duyên”. Nhưng chỉ cần có một việc nhỏ chạm đúng chỗ đau (mất danh, mất lợi, mất người thương, bị nói nặng vài câu…), lập tức phiền não hiện nguyên hình.
Người thực sự buông cái tôi thì không cần phải “trông có vẻ khiêm hạ”, cũng không cần phải “trông có vẻ từ bi”. Họ chỉ đơn giản là không còn phản ứng bảo vệ nữa. Bị nói nặng thì biết là bị nói nặng, không sinh sân hận. Bị mất thì biết là mất, không sinh tham lam phải có lại. Bị khen thì biết là khen, không sinh kiêu mạn. Đó là dấu hiệu rõ ràng nhất.
Câu đó nghe thì “ gay gắt” nhưng rất thật. Tôi đã gặp nhiều trường hợp như vậy, và chính tôi cũng từng sợ tôi sẽ rơi vào nhóm “thiền tập 30 năm mà vẫn còn nguyên”.
Để dễ hình dung sự khác biệt giữa “người mới thiền tập 2-3 năm đã nhẹ hẳn” và “người thiền tập 30 năm vẫn nặng nề”, tôi liệt kê vài dấu hiệu cụ thể:
Người thực sự buông (dù mới thiền tập vài năm) thường có những biểu hiện này:
Họ không còn cố gắng “trông có vẻ thánh thiện”. Nói chuyện bình thường, cười đùa bình thường, thậm chí đôi khi vẫn nói bậy, vẫn cáu một chút, nhưng cáu xong là hết thật, không giữ trong lòng, không ấm ức, không kể lể.
Họ không còn nhu cầu chứng minh mình thiền tập tốt, không buồn khi bị nói “mày thiền tập gì mà còn nóng tính thế”. Họ chỉ cười rồi thôi.
Họ rất sợ mình lại rơi vào ngã mạn, nên hễ ai góp ý gì (dù nặng lời) là nghe ngay, kiểm điểm ngay, không biện minh.
Họ không còn ganh tị thật sự nữa. Thấy người khác được khen, được cúng dường nhiều, được kính trọng… họ thực sự vui, không có một chút ganh tị nhỏ nào trong lòng.
Họ bắt đầu thấy thương người một cách tự nhiên, không cần cố gắng “phải từ bi”. Thấy ai khổ là muốn giúp thật lòng, không cần ai biết.
Còn người thiền tập 30 năm mà vẫn đầy ganh tị, khó chịu, hơn thua thì thường có những dấu hiệu này:
Rất nhạy cảm với danh dự, tiếng tăm, chỗ ngồi, cách người ta xưng hô với mình.
Hay nói bóng gió, phê phán người khác (đặc biệt là phê phán những người “thiền tập không đúng” theo quan điểm của mình).
Luôn có một lớp “tự trọng tâm linh” rất dày: không ai được phép nói mình còn phiền não.
Khi bị đụng là phản ứng ngay (dù rất nhẹ nhàng, rất từ tốn, nhưng ai tinh tế thì nhận biết là đang sân).
Thích kể công tu hành (“tôi ăn chay 35 năm rồi”, “tôi ngồi thiền ngày 6-8 tiếng từ hồi đó tới giờ…”) như một cách củng cố cái tôi.
Tôi từng hỏi một vị thầy lớn tuổi (thật sự đắc đạo):
“Thầy tu bao lâu thì hết ganh tị ạ?”
Thầy cười: “Khi nào con HẾT MUỐN người ta hết ganh tị với con thì con mới hết ganh tị.”
Câu đó làm tôi sững người, mới thấy: chỉ cần còn mong người khác nhìn mình với ánh mắt ngưỡng mộ, còn muốn người ta công nhận mình thiền tập tốt, thì ngay đó vẫn còn một dạng ganh tị rất vi tế: ganh để được hơn người.
Nên chuyện “mới thiền tập 2-3 năm đã buông bớt” không phải là điều thần kỳ, chỉ là họ buông cái ngã nhanh hơn, quyết liệt hơn, không giữ lại chút xíu tự hào trong tâm linh nên nhẹ nhàng. Còn người thiền tập 30 năm vẫn nặng nề thường là vì họ vẫn giữ lại một góc rất nhỏ “tôi là người thiền tập lâu năm, tôi phải giữ gìn hình ảnh”…