Wednesday, August 12, 2015

Trong đạo Phật, thiền có một phong thái hết sức đặc biệt.



  Phong thái đặc biệt nầy khởi nguồn từ một phong thái dị thường mà sinh động.  Thiền sở dĩ gọi là thiền là vì một câu cũng không có, mà một chữ cũng không có. Thiền là đi thẳng, không nhìn quanh, cũng như không ngoảnh lại.  Đừng hỏi bất cứ ai về thiền vì một người thiền chân chính sẽ chẳng nói gì đâu.  Có thể họ sẽ bảo bạn về nhà đóng cửa lại thì sẽ thấy, hoặc giả ta không có chi để nói với bạn cả, hoặc giả ai có thể phá được cái cửa ngõ ấy ngoại trừ bạn ra…
-
Thiền là như vậy đó quý bạn ạ; không phải lý luận mà có thiền, cũng không khái niệm mà có được.  Thiền là kinh nghiệm trực tiếp tự thân.  Thiền là trực giác. Cửa ngõ vào thiền chỉ có chính mình mới có thể vào; vào mà không cần biện giải hay lý luận.  Trong thiền không có ai hết ngoại trừ ta.  Bầu trời thăm thẳm là ta và ta là bầu trời thăm thẳm.  Cũng thế, thiên nhiên là ta và ta là thiên nhiên.  Nơi nào còn có lý luận và khái niệm, nơi đó không có thiền.
-
Chính những nét đặc thù ấy mà có nhiều người đã trở thành ngông cuồng khi chỉ biết thiền qua lý luận.  Bởi lẽ họ đã đi ngược lại với chỉ yếu của thiền mà uống nhằm thuốc độc.  Thiền là nín, không là nói. Chỗ nầy cũng là điểm chính yếu và vô cùng quan trọng của thiền mà bất cứ người tu thiền nào cũng nên ghi nhớ.  Ghi nhớ để học được cái phong thái của thiền một cách đứng đắn.  Ghi nhớ để đừng vướng mắc vào văn tự, lý luận và khái niệm, do đó mà không bị “cuồng thiền.”  Đấy là những điểm đánh thẳng vào những người chỉ biết dăm ba câu về thiền rồi dương dương tự đắc; đi khoe đầu nầy, khoe đầu nọ; ta đã chứng đắc nầy, chứng đắc kia. 

Tuesday, August 11, 2015

Với người xuất gia, trước khi tham thiền nhập định thì phải giữ giới thanh tịnh



Ở chỗ yên vắng, dứt lìa mọi ràng buộc của tham lam, ái dục, và gần gũi thiện tri thức.  Phải nương theo giới luật cũng như không tạo ra những tội ngũ nghịch (giết cha mẹ…).  Phải kiên tâm gìn giữ từ những giới lớn cho đến giới nhỏ.  Phải có đầy đủ niềm tin nơi luật nhân quả luân hồi, phải biết kinh sợ và khởi lòng hổ thẹn khi làm việc không đúng… Lúc tọa thiền phải vào nơi yên vắng không ồn ào, càng cách xa thế tục càng tốt.  Chẳng những vậy, người xuất gia còn không tạo ra sự nghiệp thế gian.  Ngoài ra phải biết xa lìa ngũ dục từ sắc, thinh, hương, vị, và xúc của thế gian.  Chính ngũ dục làm cho phàm phu mê đắm.  Hình dáng kiều diễm của nam nữ, những âm thanh du dương trầm bổng, những mùi hương, vị ngọt hoặc xúc chạm của da thịt mềm mại chỉ là những vé tàu suốt đưa ta về địa ngục.

Chúng ta lúc nào cũng bị nhiễu loạn và chi phối bởi ngũ dục.  Vì ngũ dục mà chúng ta cứ mãi tìm cầu; tìm cầu cái gì chúng ta cũng chả biết.  Vì ngũ dục mà chúng ta cứ mãi đi thâu góp những rác rưởi của thế gian; càng tom góp càng hăng, như lửa được thêm củi.  Khi tâm ta được tương đối tịnh, chúng ta sẽ trở nên những người quan sát, chứ không còn bị ngũ dục khống chế nữa.  Lúc đó ta sẽ thấy rằng tham, sân, si và dâm dục nó tàn độc lắm.  Người chạy theo nó cũng giống như người đạp phải rắn độc, hoặc giả giống như loài kên kên dành thịt thối mà cứ cho là ngon.  Chính vì vậy mà trước khi vào thiền ta ngăn che và canh giữ, không cho những tên giặc cướp tham lam và dâm dục vào nhà vì hễ còn ưa thích dục lạc là sống chết vẫn còn chưa đoạn dứt.

Ấy là những bậc xuất gia, còn tại gia mà có lòng phát tâm tu thiền thì sao?  Tại gia vẫn có thể tu thiền; tuy nhiên, lời Phật dạy lúc nào cũng là một chân lý: Thứ nhất, hễ còn ưa thích dục lạc là luân hồi sanh tử chưa đoạn dứt.  Thứ nhì, giới là con thuyền đưa ta đáo bỉ ngạn; không giữ hoặc phá giới là tự đâm lủng thuyền, đừng nói thiền, cũng đừng nói đến chuyện giác ngộ.  Như vậy người tại gia khi tu thiền phải vô cùng cẩn trọng vì coi chừng bị tham, sân, si mê nó dắt ta vào địa ngục và cái trí tuệ mà ta có được, chỉ là trí tuệ của đời thường không phải trí tuệ của người đi ngược dòng đời.  Chính vì thế mà ta thấy có hiện trạng “ngã mạn” xảy ra cho một số người sau thời gian tu thiền. 

Lúc chưa tu thiền thì con người còn điềm đạm, nói năng còn khiêm nhường, nhưng sau một thời gian ngồi thiền thì con người trở nên ngã mạn cống cao, đi đâu cũng tự xưng là thiền sư, gặp ai cũng nói chuyện chứng đắc, hết thiền nầy đến thiền khác.  Tội nghiệp thay cho những con bọ hung đang chui rúc trong những đống phẩn hôi thối mà cứ cho là thơm tho.  Người tại gia nên thấy đó mà hãy ráng giữ gìn giới luật trước khi vào thiền; đừng tham nhiễm thế lạc; hãy bớt vướng mắc và ham muốn đi thì mới mong vào được trong thế giới của thiền.  Nếu không xả bỏ được hoàn toàn những ham muốn của trần tục, thì ít ra cũng giữ được năm giới mà Phật đã dành cho những đứa con tại gia của Ngài.

Tóm lại, người Phật tử tại gia, dù không thực hiện được hoàn toàn những điều mà người xuất gia đã làm, cũng quyết khiêm nhường, quyết nhất tâm, nhất ý giảm thiểu những tham lam, dâm dục để khi vào thiền, cho dù chưa đạt được quả vị vô thượng đi nữa, thân tâm cũng an lạc lắm vậy.

Những điều mà người tại gia nên luôn nhớ trong khi tu thiền:

**Không cống cao ngã mạn.

**Luôn biết hãy còn tham lam dâm dục là luân hồi sanh tử vẫn chưa đoạn dứt cho dù ta có tu cả triệu năm đi nữa.

**Hãy coi chừng tham dục và quyết không làm bạn với chúng.

Con người tiếp tục theo đuổi những thú vui của dục lạc, cố gắng để có được các đối tượng dục lạc. Chúng ta không thể cưỡng lại sự cám dỗ của chúng và triền miên bận rộn và bận tâm theo đuổi sắc, thanh, hương, vị và xúc. Thèm muốn của chúng ta cho những thứ này là không ít sự thèm khát. Chúng ta tin rằng chúng ta không thể sống mà không có chúng. Đối với nhiều người chúng ta, việc thỏa mãn dục lạc lâu dài trở thành mục đích chính của cuộc sống chúng ta.

**Sân hận là oan gia của pháp an lạc, là nguồn gốc của ác đạo.  Chính cái sân hận nó giết chết sự an lạc và hạnh phúc của ta.  Vì thế ta luôn về nương nơi Tam Bảo, phải chóng tu từ bi và nhẫn nhục.

**Không nghi ngờ và học hỏi Phật pháp.  Nếu có điều gì còn chưa thông thì xin gặp minh sư mà hỏi cho thông trước khi nhập vào cuộc tu thiền.  Một khi đã nhập vào cuộc thì tâm phải tín.  Nếu không thì chẳng những tai hại cho mình mà còn cho người nữa.  Nghi ngờ mình thì cho dù có thiền hai ba chục năm cũng chả bao giờ có định.  Nghi ngờ thầy sẽ chẳng bao giờ học hỏi được điều hay lẽ thiệt nơi thầy, mà còn nay chỉ trích sư nầy, mai chỉ trích sư kia.  Dưới mắt mình, mấy thầy không giỏi bằng mình.  Nghi pháp sẽ sanh tâm phá đạo.  Người nghi như kẻ luôn đứng trước ngã ba đường, vì nghi nên không biết lối nào nên đi.

Monday, August 10, 2015

Phải thành thật mà công nhận rằng thiền là một cái gì hết sức đặc biệt của Phật giáo.



 Đức Thế Tôn ngoài những chân lý mà Ngài đã để lại cho muôn đời sau, Ngài còn vẽ lại một bức tranh thực và sống động ngay dưới cội Bồ Đề: hình ảnh của một Thái tử quyết tâm thiền định cho đến khi thành chánh quả.  Theo đạo Phật, thiền cũng đơn giản như hình ảnh của Thái tử Sĩ Đạt Ta ngồi dưới cội Bồ Đề, thế thôi.  Thiền không khúc mắc, cũng như không đòi hỏi lý luận hay khái niệm gì cả.  Thiền là sự trở về với chính mình; trở về với thực tại; sống tỉnh thức, và thực nghiệm nơi chính bản thân mình để nhận ra tự tánh.  Từng giây phút ta tỉnh thức là từng giây phút ta đang thiền, là từng giây phút ta trở về với chính ta; trở về với cái tự tánh tự thuở giờ của ta.  Sự tu tập nầy phải được liên tục, chứ không nay tỉnh mai mê.  Như vậy tu thiền là do từ nội tâm của ta, chứ không do ở bất cứ một động lực nào bên ngoài.

Tuy nhiên, trong suốt cuộc tiến tu của ta, ta cũng cần có một minh sư và những thiện hữu tri thức, giúp đỡ và nhắc nhở những lúc ta bị trở ngại.  Xin hiểu minh sư ở đây như một cây kim chỉ nam, còn thiện hữu tri thức như những người bạn đồng hành, chứ không và sẽ không bao giờ là những động lực chánh đưa ta đến giác ngộ và giải thoát.  Động lực chánh vẫn là ta, trong lúc linh mẫn cũng như ươn yếu cũng vẫn là ta.  Chính Đức Thế Tôn đã nhiều lần khuyên nhủ chúng đệ tử là dầu cho thân ta yếu đuối và bị những cơn đau vằn vặt, hãy luôn giữ cho tâm tỉnh thức và chánh niệm.  Các chư thiên chỉ giúp chúng ta qua sức mạnh của những hạnh nguyện và lòng từ ái của chính chúng ta mà thôi.  Người hoàn tất công việc tu tập cũng chỉ là ta.

Hãy xé tan bức màn vô minh và hãy vững tin khả năng tự giải thoát của mình.  Tâm ta có khả năng chứa chấp những đau khổ và phiền não; thì nó cũng có khả năng thanh lọc hết những tham, sân, si.  Tâm ta có khả năng đưa ta vào địa ngục, thì nó cũng có khả năng đưa ta trở về với tỉnh thức và tự tánh.  Phật đã dạy rất rõ ràng là mọi người trong chúng ta, ai cũng có khả năng giải thoát viên mãn; có điều là ta có muốn hay không mà thôi.