Quan trọng trong giáo pháp Phật giáo, liên quan đến việc nhận thức về tính không thường hằng của mọi thứ.
Trong bài kinh Girimānanda (nằm trong Tăng Chi Bộ Kinh (Aṅguttara Nikāya) 10.60), Đức Phật đã trình bày mười pháp quán tưởng, trong đó pháp quán tưởng đầu tiên là về ngũ uẩn vô thường. Đây là năm khía cạnh của con người mà thiền giả thường bám vào để tạo ra ảo tưởng về "tôi, bản ngã":
1. Sắc (rūpa): Thân thể, cơ thể của thiền giả. Nhận thức rằng thân thể luôn thay đổi và không thường hằng.
2. Thọ (vedanā): Cảm thọ và trạng thái cảm xúc. Cũng vô thường và thay đổi liên tục.
3. Tưởng (saññā): Nhận thức và ý thức. Chúng cũng không thường hằng và luôn biến đổi.
4. Hành (saṅkhāra): Ý định và hành động. Cơ sở để tạo ra ảo tưởng về "tôi".
5. Thức (viññāṇa): Ý thức và nhận thức. Cũng không thường hằng.
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Thế Tôn ngụ tại Sāvatthi, trong rừng Jeta, vườn ông Anāthapiṇḍika.
Bấy giờ, Tôn giả Girimānanda bị bệnh, đau đớn, bệnh nặng.
Rồi Tôn giả Ānanda đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ và ngồi xuống một bên.
Ngồi một bên, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn:
“Bạch Thế Tôn, Tôn giả Girimānanda đang bị bệnh, đau đớn, bệnh nặng.
Lành thay nếu Thế Tôn vì lòng bi mẫn mà đến chỗ Tôn giả Girimānanda.”
“Này Ānanda, nếu ông đến chỗ Tôn giả Girimānanda và giảng mười pháp tưởng (saññā),
những pháp ấy dẫn đến giác ngộ.
Này Ānanda, mười tưởng ấy là gì?”
THẾ TÔN DẠY MƯỜI PHÁP TƯỞNG NÀY NHƯ MỘT PHÁP MÔN QUÁN CHIẾU DÀNH CHO NGƯỜI ĐANG BỆNH NẶNG:
1. Aniccasaññā - tưởng về vô thường
2. Anattasaññā - tưởng về vô ngã
3. Asubhasaññā - tưởng về bất tịnh
4. Ādīnavasaññā - tưởng về nguy hại
5. Pahānasaññā - tưởng về sự từ bỏ
6. Virāgasaññā - tưởng về ly tham
7. Nirodhasaññā - tưởng về đoạn diệt
8. Sabba-loke anabhiratasaññā - tưởng về không lạc thú trong bất cứ thế giới nào
9. Ānāpānasaññā - tưởng về hơi thở vô ra
10. Vipassānāsaññā - tưởng về tuệ quán
Để thực hành quán tưởng vô thường, thiền giả có thể bắt đầu bằng việc nhận biết thân thể trong tư thế ngồi. Nhận thức toàn thân và hiểu rằng thân này là vô thường. Thân xác thay đổi liên tục và cuối cùng sẽ tan rã. Điều này giúp thiền giả chống lại sự bám thủ vào ảo tưởng về "tôi".
QUÁN THÂN KHÔNG CHỈ DỪNG LẠI Ở VIỆC NHẬN BIẾT SỰ THAY ĐỔI CỦA CƠ THỂ MÀ CÒN ĐI SÂU HƠN:
Quán các cảm giác, nhận biết các cảm giác trên cơ thể như nóng, lạnh, ngứa, đau. Chúng luôn thay đổi và không cố định.
Quán các hoạt động, nhận biết hơi thở, nhịp tim, sự co giãn của cơ bắp. Tất cả đều là những quá trình không ngừng chuyển động.
So sánh với quá khứ và tương lai, nhớ lại cơ thể mình khi còn nhỏ và hình dung cơ thể mình trong tương lai. Sự khác biệt rõ rệt này giúp thiền giả thấy rõ tính vô thường của thân.
MỞ RỘNG RA CÁC LĨNH VỰC KHÁC
Sau khi đã làm quen với việc quán thân, thiền giả có thể mở rộng việc quán tưởng sang các lĩnh vực khác:
Quán các pháp, quán tưởng về những pháp hữu vi như cảm xúc, suy nghĩ, hình ảnh. Chúng sinh ra, tồn tại rồi tan biến.
Quán về thế giới, quan sát sự thay đổi của thế giới xung quanh, mùa màng thay đổi, người đến người đi, mọi thứ đều không ngừng chuyển động.
Quán về các mối quan hệ, nhận biết rằng các mối quan hệ cũng không cố định. Chúng có thể thay đổi, phát triển hoặc kết thúc.
Lợi ích của việc quán tưởng vô thường.
Giảm bớt bám chấp, khi nhận thức rõ về tính vô thường của mọi sự vật, thiền giả sẽ bớt bám chấp vào những thứ không thực sự thuộc về mình.
Tăng cường sự tỉnh thức, quán tưởng giúp thiền giả luôn sống trong hiện tại, không bị cuốn theo quá khứ hay tương lai.
Phát triển trí tuệ, qua quá trình quán tưởng, thiền giả dần hiểu rõ bản chất của sự vật, từ đó phát triển trí tuệ.
Giảm bớt khổ đau, khi buông bỏ được những bám chấp, thiền giả sẽ giảm bớt được khổ đau do tham, sân, si gây ra.
GIẢI THÍCH THEO KINH ĐIỂN NGUYÊN THỦY:
Phát triển trí tuệ (paññā-bhāvanā) - Hiểu rõ bản chất thật của các pháp.
Trong kinh điển nguyên thủy, trí tuệ chân thật (yathābhūta-ñāṇadassana) không phải là kiến thức sách vở hay suy luận triết học, mà là sự thấy biết trực tiếp (vipassanā) vào ba đặc tính chung (tilakkhaṇa) của mọi hiện hữu:
Vô thường (anicca): mọi hành (saṅkhāra) đều sinh diệt liên tục, không có gì trường tồn.
Khổ (dukkha): chính vì vô thường nên mọi thứ đều không đáng để bám víu, không thể làm chỗ nương tựa vững chắc.
Vô ngã (anattā): không có một cái “ta”, “của ta” hay linh hồn bất biến nào đứng sau các hiện tượng thân-tâm, chỉ là năm uẩn (khandha) vận hành theo duyên.
Quá trình quán tưởng (vipassanā) trong thiền là quán sát trực tiếp năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) đang sinh diệt ngay trong hiện tại, qua bốn oai nghi (đi đứng nằm ngồi), qua hơi thở, qua cảm thọ, qua tâm… Khi thiền giả liên tục ghi nhận (sati) và thấy rõ sự sinh diệt của các pháp với chánh tri (sampajañña), các tầng tuệ minh sát (vipassanā-ñāṇa) sẽ lần lượt khởi sinh:
Danh sắc phân tích tuệ (nāmarūpa-pariccheda-ñāṇa)
Duyên hệ tuệ (paccaya-pariggaha-ñāṇa)
Thắng giải tuệ (sammasana-ñāṇa)
Sinh diệt tuệ (udayabbaya-ñāṇa) → thấy rõ sinh diệt cực nhanh
Hoại diệt tuệ (bhaṅga-ñāṇa) → chỉ còn thấy diệt diệt
Tuệ đáng sợ, khổ tuệ, vô thường tuệ…
… cho đến Đạo tuệ & Quả tuệ (magga-phala-ñāṇa).
Khi Đạo tuệ khởi lên, tham sân si bị nhổ tận gốc (ở mức độ từng bậc Thánh), đó chính là trí tuệ giải thoát (vimutti-ñāṇadassana). Cho nên trong kinh điển nguyên thủy nói: “Chỉ có một con đường duy nhất để thanh tịnh chúng sinh, vượt qua khổ đau, đạt chánh trí và chứng Niết-bàn, đó là quán tuệ” Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga).
Giảm bớt và cuối cùng chấm dứt khổ đau - nhờ đoạn tận tham, sân, si
KHỔ ĐAU (DUKKHA) TRONG KINH ĐIỂN NGUYÊN THỦY ĐƯỢC PHÂN TÍCH RẤT RÕ-RÀNG:
Khổ thọ (dukkha-vedanā): đau đớn thân-tâm
Khổ do hành (saṅkhāra-dukkhatā): mọi pháp hữu vi đều vô thường nên bản chất là khổ
Khổ do biến hoại (vipariṇāma-dukkhatā): lạc thọ cũng thành khổ khi hoại diệt
Nguyên nhân sâu xa của mọi khổ đau là tham ái (taṇhā) và vô minh (avijjā). Tham ái sinh ra từ si mê, từ không thấy rõ vô thường-khổ-vô ngã, nên mới bám víu, mới “ta”, “của ta”.
Khi thiền giả thực hành quán tưởng (vipassanā), mỗi lần thấy rõ một pháp là vô thường → tham giảm một chút.
Thấy rõ khổ → sân giảm.
Thấy rõ vô ngã → ngã mạn và si mê giảm.
CÀNG THẤY SÂU, THAM SÂN SI CÀNG MỎNG DẦN, CHO ĐẾN KHI ĐẠO TUỆ KHỞI LÊN:
Tu-đà-hoàn (Sotāpanna): đoạn 3 kiết sử (thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ), tham sân chỉ còn rất nhẹ → tối đa 7 kiết sử còn lại.
Nhất lai (Sakadāgāmī): tham sân đối với dục giới giảm mạnh.
Bất lai (Anāgāmī): đoạn hết tham dục và sân hận.
A-la-hán: đoạn tận hoàn toàn 10 kiết sử, kể cả mạn, trạo cử, vô minh → khổ đau chấm dứt vĩnh viễn.
CHO NÊN ĐỨC PHẬT DẠY TRONG KINH TƯƠNG ƯNG:
“Yato yato sammasati - khandhānaṃ udayabbayaṃ
Labhatī pītipāmojjaṃ - amataṃ taṃ vijānataṃ
Tato tato sammasitvā - dukkhassantaṃ karoti te.”
(Khi nào hành giả chánh niệm thấy rõ sự sinh diệt của năm uẩn, người ấy được hỷ lạc, vì đã thấy pháp bất tử.
Do chánh niệm như vậy, họ làm cho khổ đau chấm dứt.)
TÓM LẠI THEO KINH ĐIỂN NGUYÊN THỦY:
Phát triển trí tuệ = thấy rõ tam tướng → đoạn vô minh.
Giảm bớt và chấm dứt khổ đau = buông bỏ bám chấp do thấy rõ vô ngã → đoạn tận tham sân si.
Hai điều này không tách rời nhau, mà là hai mặt của cùng một quá trình quán tưởng (vipassanā) dẫn đến Niết-bàn.