Friday, October 2, 2026

CHÚNG SANH TRONG ĐỜI CÓ HAI HẠNG

 

Câu này của Đức Phật trong Kinh Tăng Chi Bộ (Aṅguttara Nikāya) là một mũi tên rất sắc, đâm thẳng vào gốc rễ của mọi khổ đau và mọi ảo tưởng trong đời sống chúng sanh.

 

“CHÚNG SANH TRONG ĐỜI CÓ HAI HẠNG:

 

Một hạng biết sợ sinh tử, chán hiện hữu (bhava-nandi, bhava-taṇhā).

 

Một hạng thì muốn đời đời sống hoài, muốn thường còn bất tử (vibhava-taṇhā, muốn không chết, muốn tồn tại vĩnh cửu).”

 

Khi quán chiếu sâu, ta sẽ thấy:cả hai hạng đều đang bị ái dục (taṇhā) trói buộc, chỉ khác nhau ở đối tượng của ái dục mà thôi.

 

1. Hạng thứ nhất: sợ sinh tử, chán hiện hữu

Đây là những người đã thấy được khổ đau của vòng luân hồi: sinh rồi già, bệnh, chết, chia ly, oán táng hội… Họ chán ngán cái “hiện hữu” (bhava) đầy khổ này. Họ khao khát thoát ly, khao khát Niết-bàn, khao khát “không còn phải tái sinh nữa”.

 

Nhưng nếu không có chánh kiến, cái khao khát thoát ly ấy vẫn còn là một dạng ái dục vi tế: “Ta muốn không còn hiện hữu nữa”. Vẫn còn cái “ta” đang muốn diệt cái “hiện hữu của ta”. Đó chính là ái diệt, ái muốn không tồn tại (vibhava-taṇhā). 

Nhiều người tu theo ngoại đạo thời Đức Phật rơi vào loại này:họ tu khổ hạnh ép xác, tự vẫn, nhịn ăn đến chết… vì nghĩ rằng “chết là hết”, hoặc “chết là giải thoát”. Đó vẫn là tham ái, chỉ đổi chiều mà thôi.

 

2. Hạng thứ hai: muốn đời đời sống hoài

Đây là đa số chúng sanh phàm phu. Họ sợ chết, họ muốn sống mãi, muốn trường sinh bất tử, muốn được lên cõi trời thọ mạng hàng ngàn, hàng vạn năm, hoặc ít nhất cũng muốn kiếp sau lại được làm người giàu sang, đẹp đẽ, khỏe mạnh… Đây chính là hữu ái (bhava-taṇhā) - ái muốn tồn tại mãi mãi.

 

Cái muốn “sống hoài” này biểu hiện rất rõ trong đời thường:sợ chết, bám víu vào thân, vào danh, vào tài sản, vào người yêu thương, vào ký ức, vào “cái tôi”. Ngay cả khi cầu sinh thiên, cầu tái sinh vào cõi tốt đẹp hơn, vẫn là hữu ái (bhava-taṇhā).

 

Quán chiếu theo thiền quán (vipassanā): cả hai đều là gông cùm

Khi thiền giả ngồi thiền quán, nhìn sâu vào thân tâm, sẽ thấy:

 

Cả “muốn sống mãi tồn tại” lẫn “muốn không còn tồn tại nữa” đều khởi lên từ một gốc duy nhất: ngã chấp (atta-vāda), chấp có một “cái ta” thường còn, riêng biệt.

 

Cả hai đều là hai mặt của đồng xu “tham ái” (taṇhā).

 

Chỉ khi nào thấy rõ năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) là vô thường, khổ, vô ngã - không phải ta, không phải của ta, không phải tự ngã của ta - thì cả hai loại ái này mới cùng lúc bị nhổ bật gốc.

 

LÚC ẤY, THIỀN GIẢ KHÔNG CÒN RƠI VÀO HAI CỰC ĐOAN:

 

Không còn bám víu vào “hiện hữu” (hữu ái).

 

Cũng không còn chạy trốn vào “phi hiện hữu” (diệt ái).

 

Chỉ còn lại con đường trung đạo: Niết-bàn không phải là “có tồn tại” cũng không phải là “không tồn tại”, mà là sự đoạn tận hoàn toàn tham, sân, si - sự chấm dứt của mọi khát ái.

 

ĐỨC PHẬT TỪNG NÓI TRONG KINH NIẾT BÀN GIỚI (NIBBĀNADHĀTU SUTTA) (ITIVUTTAKA 44):

 

“Có hai tư tưởng này làm nhơ bẩn tâm. Tư tưởng nào? Tư tưởng ‘tôi là’, và tư tưởng ‘tôi sẽ không là’. Cả hai đều là mũi tên của Ma vương.”

 

Khi thiền quán, thiền giả chỉ cần nhìn thẳng vào sự sinh diệt của thân tâm trong từng sát-na, không bám, không xua, không muốn “sống mãi”, cũng không muốn “chết đi cho rồi”. Chỉ cần thấy như thật: “Đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là sự diệt khổ, đây là con đường đưa đến diệt khổ”.

 

Lúc ấy, cả hai hạng chúng sanh kia đều được giải thoát trong cùng một pháp: sự buông bỏ hoàn toàn khát ái đối với mọi hình thức tồn tại hay không tồn tại.

 

ĐÓ CHÍNH LÀ CHỖ ĐỨC PHẬT VƯỢT XA MỌI TRI KIẾN THẾ GIAN KHI NGÀI TUYÊN BỐ:

 

“Ta không tranh luận với đời, chỉ có đời tranh luận với Ta. Người nói pháp không tranh luận với ai trên đời. Điều gì các nhà trí ở đời đồng thuận là ‘có’, Ta cũng nói ‘có’. Điều gì các nhà trí ở đời đồng thuận là ‘không’, Ta cũng nói ‘không’.”

 

Vì Niết-bàn không nằm ở cực “có” cũng không nằm ở cực “không”.

Nó là sự tịch diệt của mọi cực đoan, của mọi khát ái, của mọi chấp thủ.

 

Câu ấy chính là chìa khóa mở toang cánh cửa Niết-bàn.

 

Khi thiền giả quán thật sâu, sẽ thấy rằng mọi khổ đau đều bắt nguồn từ việc tâm bị kẹt vào một trong hai cực:

 

Cực “có” → bám víu vào hiện hữu, vào thân này, người này, khoái lạc này, danh này, vị này… (hữu ái)

 

Cực “không” → chán ghét hiện hữu, muốn hủy diệt thân này, muốn “chết là hết”, muốn “diệt ngã”, muốn “tan biến vào hư vô”… (diệt ái)

 

Cả hai cực đều còn “cái ta” đứng sau lưng điều khiển.

Còn “ta” thì còn dao động giữa “ta muốn có” và “ta muốn không”.

 

Niết-bàn chính là chỗ tâm không còn dính vào cả hai cực ấy nữa.

Không phải “có một cái ta đang an trú trong Niết-bàn”, cũng không phải “không còn cái ta nào nữa”.

 

Chỉ còn lại sự vắng mặt hoàn toàn của khát ái, của chấp thủ, của mọi ý niệm “ta - của ta - tự ngã của ta”.

 

ĐỨC PHẬT GỌI ĐÓ LÀ:

 

“Atakkāvacara” - ngoài tầm của lý luận, không thể nghĩ bàn bằng khái niệm

 

“Anidassana” - không hiện hình, không thể chỉ ra được

 

“Appatiṭṭha” - không chỗ trụ, không bám vào đâu cả (kể cả bám vào “không”)

 

“Santa” - tịch tịnh

 

“Amaṭa” - bất tử (không phải trường sinh, mà là không còn sinh diệt nữa)

 

Có một đoạn kinh rất hay trong KINH HỒI HƯỚNG CHƯ THIÊN. (SAṂYUTTASUTTA PĀṬALIGĀMIYASUTTA), (Udāna, 8.1), (DN, Đại Bát Niết Bàn) (Nibbānasutta) mà mỗi lần đọc lại thấy mát cả tâm:

 

“Kính bạch Thế Tôn, Niết-bàn là có hay là không?”

 

Đức Phật im lặng.

 

Lần thứ hai, thứ ba vẫn hỏi y vậy.

 

CUỐI CÙNG NGÀI MỚI TỪ TỐN TRẢ LỜI:

 

“Không có câu trả lời nào trong bốn luận đề (tứ cú) có thể diễn tả được Niết-bàn:

 

Niết-bàn không phải là ‘có’

 

Niết-bàn không phải là ‘không’

 

Niết-bàn không phải là ‘vừa có vừa không’

 

Niết-bàn cũng không phải là ‘không có mà cũng không không có’

 

Vì Niết-bàn là sự đoạn tận hoàn toàn của mọi luận cứ, mọi ý niệm, mọi khát ái, mọi chấp thủ.”

 

KHI THIỀN GIẢ ĐẠT ĐẾN CHỖ ẤY, TÂM GIỐNG NHƯ NGỌN LỬA ĐÃ TẮT:

 

Không nói lửa “đi đâu”, cũng không nói lửa “không đi đâu”.

Chỉ biết rằng nhiên liệu (tham sân si) đã hết, nên lửa không còn cháy nữa.

 

NIẾT-BÀN CŨNG VẬY:

 

Không còn nhiên liệu của “ta” và “của ta”, nên mọi sinh diệt đều dừng lại, mà không cần phải “diệt cái ta” bằng ý chí (vì vẫn còn “ta” muốn diệt).

 

Chỉ cần thấy như thật, buông như thật, thì tự nhiên mọi cực đoan đều tan biến, chỉ còn lại sự an tịnh không lời, không thể diễn tả.

 

Chỗ ấy gọi là Niết-bàn.

Chỗ ấy không nằm ở cực “có”, cũng không nằm ở cực “không”.

 

Chỉ có người đã đến đó mới thực sự biết.

Còn chúng ta, chỉ còn cách tiếp tục quán, tiếp tục buông, từng sát-na một.

 

Nguyện cho tất cả chúng ta đều sớm thấy được con đường vượt thoát hai cực đoan ấy.

 

Sabbe sattā sukhitā hontu.

Cầu mong mọi chúng sanh đều an lạc.

 

CHỈ CÒN LẠI CON ĐƯỜNG RẤT GIẢN DỊ, RẤT GẦN GŨI, RẤT THỰC TẾ:

 

Mỗi hơi thở vào, biết rõ mình đang thở vào.

Mỗi hơi thở ra, biết rõ mình đang thở ra.

 

Khi thân đau, biết rõ thân đang đau, không thêm thắt “ta đau”, “tại sao ta phải đau”.

Khi tâm buồn, biết rõ tâm đang buồn, không chạy theo câu chuyện “tại sao ta buồn”, “ta không muốn buồn”.

 

Khi vui, biết rõ đang vui, không bám víu “cho vui này kéo dài mãi”.

Khi sợ chết, biết rõ đang sợ chết, không đè nén, cũng không phóng đại.

 

Chỉ nhìn thẳng, chỉ thấy như thật, chỉ buông từng chút một, không cần phải đợi đến một khoảnh khắc vĩ đại nào trong tương lai.

 

Cái thấy ấy, cái buông ấy, chính là đang đi trên con đường vượt thoát hai cực đoan, ngay trong sát-na hiện tại này.

 

Không cần phải “đạt” Niết-bàn ở đâu xa.

Niết-bàn đang lặng lẽ hé mở trong mỗi lần tâm không dính mắc, dù chỉ một giây.

 

Vậy nên, chúng ta chỉ cần tiếp tục như thế,

từng bước chân chánh niệm,

từng hơi thở tỉnh giác,

từng phút giây buông tay.

 

RỒI MỘT NGÀY NÀO ĐÓ, SẼ TỰ NHIÊN NHẬN RA:

 

Ồ, hóa ra mình đã về đến nhà từ lâu, chỉ vì trước đây cứ tưởng nhà phải ở chỗ khác.

 

Nguyện cho mỗi chúng ta đều kiên trì trên con đường nhỏ bé mà kỳ diệu này, không nản, không vội, không chờ đợi, cho đến khi mọi gánh nặng đều tự nhiên rơi xuống.

 

An lạc thay từng sát-na chánh niệm.

An lạc thay con đường buông bỏ.

An lạc thay Niết-bàn đang chờ sẵn ngay đây.

 

Sabbe sattā averā hontu.

Abyāpajjā hontu.

Anīghā hontu.

Sukhī attānaṃ pariharantu.

 

Cầu mong mọi chúng sanh

không oán, không hại,

không khổ đau,

giữ tâm mình luôn an lạc.

 

Nam-mô Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật.