Saturday, October 29, 2016

HƯỚNG DẪN THIỀN NIỆM HƠI THỞ (Buổi thứ 22 – Thứ Ba 29/7/2009) + (08) Ân Đức BUDDHO:



CHÙA TAM BẢO
323 Phan Chu Trinh
Mùa An cư - Phật Lịch 2553 (Dương Lịch 2009)
HƯỚNG DẪN THIỀN NIỆM HƠI THỞ (Buổi thứ 22 – Thứ Ba 29/7/2009)
Do Ngài Hoà Thượng Pháp Sư - Đại Thiền Sư ASHIN KOVIDA
Thiền Lâm Viện Pa-Auk - Tiểu Bang Mon – Mawlamyine – Myanmar.

Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa
ÂN ĐỨC PHẬT BẢO (HỒNG ÂN PHẬT BẢO (tiếp theo)

Trong 9 Hồng Ân của Đức Phật:
Arahaṃ (1), Sammāsambuddho (2), Vijjācaranasampanno (3), Sugato (4), Lokavidū (5), Anuttaro purisadammasārathi (6), Satthādevamanussānaṃ(7), Buddho (8), Bhagavā (9).

+ (08) Ân Đức BUDDHO:

ÂN ĐỨC PHẬT  là Ân Đức Thứ Tám:
Sabbadhamme buddhaheti buddho
- Sabbadhamme: Tất cả các Pháp
- Buddhati: biết được
- Iti tasma: vì thế
- Buddho: gọi là Phật

          Nghĩa là: Người biết được tất cả các Pháp nên gọi là Phật:

Cuddassahi ñāṇehi buddhassa Buddho.” Câu này có nghĩa là: “Bậc biết được bằng 14 loại trí, nên gọi là Phật:

          + + + Mười Bốn trí ấy gồm có:
          I>. Trí biết được về Bốn sự Thật (TỨ DIỆU ĐẾ)

          1. Trí biết rõ ràng về Khổ: Dukkhasaccā: (Khổ đế),
          2. Trí biết rõ ràng Pháp sẽ phải được loại trừ: Samudayasaccā (Tập đế),
          3. Trí biết rõ ràng Pháp liễu ngộ tức thì: Nirodhasaccā (Diệt đế),
4. Trí biết rõ ràng Pháp phải được phát triển: (Maggasaccā) (Đạo đế).
Và vì liễu tri được Bốn Sự Thật ấy bằng trí, nên Ngài có được 4 loại trí ấy. 

II>. Bốn Tuệ Phân Tích (Paṭisambhidāñāṇa): Tuệ Phân Tích (Paṭisambhidā) được gọi là vì Biết được nhân; biết được quả; biết thông suốt rõ ràng cả ý nghĩa, cú pháp ngữ pháp; phân tích được bằng nhiều ví dụ từ nông đến sâu.  

1. Attha Paṭisambhidāñāṇa: Tuệ Phân tích nhân (hetu)
2 .Dhamma Paṭisambhidāñāṇa: Tuệ Phân tích quả (vipāka)
3. Nirutti Paṭisambhidāñāṇa: Tuệ Phân Tích ngữ pháp (sadda)
4. Paṭibhāna Paṭisambhidāñāṇa: Tuệ Phân Tích 1 vấn đề bằng đủ các ví dụ (upamā, upmeyya)
         
III>. Sáu Tuệ đặc biệt (Asādhāraṇañāṇa): Chỉ có Đức Phật mới có được 6 Tuệ đặc biệt này mà thôi, các vị Thánh Tăng Đại Đệ Tử, các hạng Thanh Văn, không một chúng sanh nào có ngoài trừ Đức Phật.

1.    Indriyaparopariyattiñāṇa: Tuệ biết được căn cơ, Pāramī (Balamật) của chúng sanh đã đến hồi chín mùi.

2.    Āsayānusayañāṇa: Tuệ biết được nếu thuyết bài pháp này như thế nào đến chúng sanh này sẽ khiến cho họ lập tức liễu tri các Pháp theo tuần tự và chứng đắc được Đạo-Quả. Đức Phật Ngài biết được khuynh hướng mong mõi trong tâm của chúng sanh đó.

3.    Yamakapāṭihāriya: Thần thông song hành là Oai lực có thể thị hiện cùng một lúc nước và lửa thoát ra từ châu thân ngài. Nước từ bên mắt phải phun ra, lửa từ bên mắt trái phun ra, nước từ bên tai trái phun ra, lửa ở bên tai phải phun ra, những lỗ chân lông lỗ này phun nước, lỗ khác phun lửa. Toàn bộ khắp châu thân của Ngài có thể phun lửa và nước cùng một lúc. (Một lúc Tâm của Đức Phật có thể bắt được nhiều đối tượng – Đây là điều đặc biệt mà không một ai trong thế gian có thể có được. Chỉ có Đức Phật mới thị hiện được Thần Thông này).
 
4.    Mahākaruṇāsamāpatti: Buổi sáng sớm, Ngài Nhập Đại Bi Định và quan sát thế gian. Số lần Ngài nhập rồi xã Đại Bi Định lên đến 2.400.000 lần trong một thời Thiền Định. (Một thời ngồi: Ngài Nhập rồi Xã Đại Bi Định hai triệu bốn trăm ngàn lần để quan sát thế gian để tìm kiếm người tế độ.)

5.    Anāvaraṇañāṇa: Tuệ biết được thông suốt, xuyên thấu mà không có bất kì một điều gì có thể ngăn che, cản trở. Khi cần khởi tâm muốn biết là biết ngay lập tức.

6.    Sabbaññutañāṇa: Tuệ toàn giác, Tuệ thông suốt tất cả các Pháp trong thế gian.
Sáu loại Tuệ trên chỉ có nơi một Vị Phật Toàn Giác mà thôi, các chúng sanh còn lại không thể nào có được.
Trên đây là 14 loại trí của một Vị Phật Toàn Giác nên Ngài có hồng danh là PHẬT.

Câu hỏi 60:  Xin Ngài cho con Biết về Māna (mạn), và đến lúc nào thì mới có thể tận diệt được Mạn? (Anh Trực)

Trả lời:  
- Mạn (māna) có đặc tướng là tính kiêu căng, tính ngạo mạn,
- Có nhiệm vụ và sự đối xử, so sánh,
- Có biểu hiện là sự dương dương tự đắc, “dương nhiễu phất cờ”, (ví dụ nơi một vị hành giả tưởng mình đã thông đạt các loại Trí).

- Nguyên nhân gần khiến mạn sanh khởi là Tâm Tham không hợp tà kiến (diṭṭhivippayutta).  
Trên đây là định nghĩa về mạn (māna) qua tướng trạng (lakkhaṇa), nhiệm vụ (rasakicca), biểu hiện (paccupaṭṭhāna) và nhân gần (padaṭṭhāna) trích từ Dhammasaṅganī-Atthakathā (Chú giải bộ Pháp Tụ - trang 297 (pāḷi))

+ Trong thế gian có 3 loại người:

1. Seyyapuggala:            Hạng thánh thiện, cao thượng,
2. Sadisapuggala:            Hạng người bình thường,
3. Hīnapuggala:               Hạng người thấp kém.

+ Trong mỗi hạng có các loại mạn sau:

1. Seyyamāna:      (thượng mạn, cao mạn) nghĩ rằng ta hơn người khác về 1 trong các vấn đề về: đức hạnh, về danh vọng, học vấn, hình thức (sắc tướng, dung mạo)…

2. Sadisamāna:      (đồng mạn) nghĩ rằng ta bằng người về các phương diện đức hạnh, về danh vọng, học vấn…

3. Hīnamāna:        (ti mạn, liệt mạn) nghĩ rằng ta thua kém người, cần gì ta phải quan tâm đến họ…

+ Hạng người thánh thiện, cao thượng thường có loại thượng mạn, cao mạn,
+ Hạng người bình thường, thường có loại đồng mạn,
+ Và hạng người thấp kém thường có ti mạn, liệt mạn.

Mạn khởi lên tương ứng như vậy gọi là như thật mạn, chân mạn (yathāvamāna). Các loại mạn tương ứng này là thường thấy đối với ba hạng người nói trên. Mạn thường thấy ở các vị thánh hữu học (sekhiya) là thượng mạn (seyyamāna) (Ví dụ: khi một vị đắc được đạo quả nào, vị ấy biết mình hơn những vị có đạo quả thấp hơn). Chỉ đến Thánh Đạo Alahán mới có thể loại trừ được loại mạn này (thượng mạn).

          Có một loại mạn khác xuất hiện ở người khi không đắc được đạo quả, nhưng lại suy tưởng sai lầm rằng mình đã đắc được Đạo Quả, và khi ấy ngã mạn xuất hiện nơi vị ấy (mạn này không tương ứng, không đúng – phi chân mạn - Ayathāvamāna).

          + Vấn đề về Tà Kiến và Ngã Mạn (DiṭṭhiMāna ):
          Tà kiến (diṭṭhi) là sự suy tưởng sai lầm cho rằng Thân-Năm-Uẩn này Tự Ngã.

          Còn Ngã mạn, nghĩ rằng Thân-Năm-Uẩn này là của Ta.

          Mặc dù khác biệt về hình thức suy tưởng, về bản chất, chúng đều có đối tượng là Thân-Năm-Uẩn.

Khi có cùng chung một đối tượng là Thân-Năm-Uẩn, Tà kiến và Ngã mạn có chung đối tượng chúng sẽ cạnh tranh nhau.

          Theo Vi Diệu Pháp (Abhidhamma):
Thì khi tà kiến (diṭṭhi) có mặt thì ngã mạn (māna) không có mặt, và ngược lại,
Khi Ngã mạn (māna) có mặt thì tà kiến (diṭṭhi) không có mặt.

Một ví dụ cho dễ hiểu là:
<Hai sư tử không thể ở chung một động,
Hai vua không thể cùng chung quốc độ,
Hai hùm không thể ở cùng nhau>.

Vào lúc Đức Thế Tôn còn tại tiền, Đại Đức Anuruddha chưa chứng đắc quả vị Thánh Nhập Lưu (Sotapanna) nhưng lại có Thiên Nhãn Thông (dibbacakkhu), có khả năng nhìn thấy được 10.000 thế giới. Ngài thấy được Thiên Giới, Địa Ngục giới,… 10.000 thế. Bất cứ khi nào Ngài muốn nhìn Ngài đều biết rõ, không có một vật cản nào phía trước có thể ngăn che được. Và chúng ta biết là Ngài Anuruddha rất là tinh tấn trong việc thực hành Pháp. Dù có nỗ lực, tinh tấn mấy nhưng Ngài vẫn chỉ là một vị Phàm, chưa chứng đắc được Đạo Quả nào cả. Ngài đã rất nỗ lực mà vẫn không đạt kết quả gì nên có những lúc mệt mỏi chán nản. Rồi vào lúc ấy Ngài Sariputta đi đến thăm ông và đã giáo huấn cho ông. Vì Đại Đức Anuruddha đã thuật lại với Ngài Sariputta rằng: “Bạch Hiền huynh, con có thể thấy được 10.000 thế giới, có thể biết được 10.000 thế giới, Trí của con bén nhạy là vậy, nhưng tại sao con chưa đạt được một Đạo Quả nào cả?” Ngài Sariputta biết bèn nói: “Này Anuruddha, Hiền đệ hãy bỏ ngã mạn (māna) đi mà hành thiền, khi Hiền đệ nói rằng chính Hiền đệ có thể nhìn thấy được 10.000 thế giới, trí tuệ của Hiền đệ bén nhạy: ấy là Hiền đệ đang ngã mạn. Còn khi Hiền đệ nói: “Ta đã nổ lực, tinh tấn không ngừng nghỉ, không thối giảm như vậy, nhưng tại sao lại chưa đạt được Đạo Quả: ấy là Hiền đệ đang trạo cử, vọng động (Uddhacca-kukkucca). Hiền đệ hãy dẹp bỏ vọng động, trạo cử ấy đi.” Ngài Sariputta đã hướng dẫn như vậy. Được sự hướng dẫn như vậy, Đại Đức Anuruddha nhiệt tâm trừ ngã mạn, trạo hối - vọng động và hoài nghi. Chẳng bao lâu Đại Đức ấy đã đoạn trừ hết thảy mọi lậu hoặc và đắc được quả vị Alahán.   
     
Đại Đức Anuruddha dù có thiên nhãn thông cũng vẫn có những pháp chướng ngại như vậy đấy. Còn hạng phàm nhân chúng ta thì đừng nói là không có gì? Phóng tâm - vọng động – ngã mạn tất nhiên là có khởi rồi. Tuy nhiên đừng để ý đến, đừng có nghĩ đến chuyện dẹp bỏ ngã mạn này. (Vì không phải nghĩ đến chuyện dẹp bỏ ngã mạn mà ngã mạn dẹp bỏ được theo ý muốn chúng ta – chú thích người dịch). Phóng tâm vọng động đừng có để ý đến, (để ý đến càng khiến cho phóng tâm nhiều hơn (vì đó là không như lí tác ý, không khéo tác ý, vụng tác ý (ayonisomanasikāra) – ghi chú người dịch)). Và như vậy mình càng đang để bụng không muốn nhìn, không muốn gặp những người mà mình không muốn nhìn, không ưa gặp. Đừng để ý như vậy. (Càng ghét thì càng để ý, mà càng để ý thì càng ghét.) Thường thì trong thế gian này càng để bụng bao nhiêu những ý nghĩ là Ta không muốn nhìn, không ưa gặp, không muốn biết những người mà ta không ưa nhìn bao nhiêu thì thì ngã mạn càng không thể tránh được chừng ấy. Kể cả để ý đến ngã mạn đã khởi lên cũng đừng chú ý đến nó. Cái gì đã qua rồi là xong, chỉ để ý đến đề mục chính được phát triển tăng dần theo từng giai đoạn. Phóng tâm vọng động đã khởi (uddhacca, kukkucca) đừng để ý đến làm gì. Đây là phương pháp mà Ngài Sariputta đã hướng dẫn Đại Đức Anuruddha và cuối cùng nhờ phương pháp này mà Ngài Anuruddha đã tận trừ được các lậu hoặc.

Lúc chưa nỗ lực hành theo phương pháp này, Đại Đức Anuruddha vẫn chưa đắc Đạo Quả Sotapanna (Dự Lưu Đạo Quả - Quả vị Nhập Dòng Thánh đầu tiên (diệt trừ được Thân Kiến (sakkāyadiṭṭhi) -Hoài nghi (Vicikicchā) và Giới cấm thủ (sīlabbataṃ).  
               
Sādhu!Sādhu!Lành thay.

(Dứt buổi thứ 22)

PHÁP TRÍCH
II. Phẩm Ðoạn Triền Cái

1.- Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỷ-kheo, dẫn đến dục tham (Kāmacchandā) chưa sanh được sanh khởi, hay dục tham đã sanh được tăng trưởng quảng đại, này các Tỷ-kheo, như tịnh tướng (subhanimitta). Tịnh tướng, này các Tỷ-kheo, nếu không như lý tác ý (ayonisomanasikāra), đưa đến dục tham chưa sanh được sanh khởi, hay dục tham đã sanh được tăng trưởng quảng đại.

2. Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỷ-kheo, đưa đến sân (byāpāda) chưa sanh được sanh khởi, hay sân đã sanh được tăng trưởng quảng đại, này các Tỷ-kheo, như đối ngại tướng (paṭighanimitta). Ðối ngại tướng, này các Tỷ-kheo, nếu không như lý tác ý (ayonisomanasikāra), đưa đến sân, chưa sanh được sanh khởi, hay sân đã sanh được tăng trưởng quảng đại.

3. Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỷ-kheo, đưa đến hôn trầm thụy miên (thīnamiddha) chưa sanh đưọc sanh khởi, hay hôn trầm thụy miên đã sanh được tăng trưởng quảng đại, này các Tỷ-kheo, như không hân hoan (arati), biếng nhác (tandī), chán nản (vijambhitā) , ăn quá no (bhattasammado ), tâm thụ động (līnattaṃ). Với người có tâm thụ động, này các Tỷ-kheo, hôn trầm thụy miên chưa sanh được sanh khởi, hay hôn trầm thụy miên đã sanh được tăng trưởng quảng đại.

4. Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỷ-kheo, đưa đến trạo hối (uddhaccakukkucca) chưa sanh được sanh khởi, hay trạo hối đã sanh được tăng trưởng quảng đại, này các Tỷ-kheo, như tâm không được chỉ tịnh (cetaso avūpasamo). Với người tâm không chỉ tịnh, này các Tỷ-kheo, trạo hối chưa sanh được sanh khởi, hay trạo hối đã sanh được tăng trưởng quảng đại.

5. Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỷ-kheo, đưa đến nghi hoặc (vicikicchā) chưa sanh được sanh khởi, hay nghi hoặc đã sanh được tăng trưởng quảng đại, này các Tỷ-kheo, như không như lý tác ý (ayonisomanasikāra). Do không như lý tác ý, này các Tỷ-kheo, nghi hoặc chưa sanh được sanh khởi, hay nghi hoặc đã sanh được tăng trưởng quảng đại.
------------------------ (Dứt nguyên nhân sinh khởi, tiếp theo là nguyên nhân đoạn diệt)

6. Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỷ-kheo, đưa đến dục tham chưa sanh không sanh khởi, hay dục tham đã sanh được đoạn tận, này các Tỷ-kheo, như tướng bất tịnh (asubhā) . Tướng bất tịnh, này các Tỷ-kheo, nếu như lý tác ý (yonisomanasikāra), thời dục tham chưa sanh không sanh khởi, hay dục tham đã sanh được đoạn tận.

7.    Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỷ-kheo, đưa đến sân chưa sanh không sanh khởi, hay sân đã sanh được đoạn tận, này các Tỷ-kheo, như từ tâm giải thoát (mettā cetovimutti). Từ tâm giải thoát, này các Tỷ-kheo, nếu như lý tác ý (yonisomanasikāra), thời sân chưa sanh không sanh khởi, hay sân đã sanh được đoạn tận.

8.    Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỷ-kheo, đưa đến hôn trầm thụy miên chưa sanh không sanh khởi, hay hôn trầm thụy miên đã sanh được đoạn tận, này các Tỷ kheo, như tinh cần giới (ārambhadhātu), tinh tấn giới (nikkamadhātu), dõng mãnh giới (parakkamadhātu). Người tinh cần tinh tấn, này các Tỷ kheo, hôn trầm thụy miên chưa sanh không sanh khởi, hay hôn trầm thụy miên đã sanh được đoạn tận.


9.    Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỷ-kheo, đưa đến trạo hối chưa sanh không sanh khởi, hay trạo hối đã sanh được đoạn tận, này các Tỷ-kheo, như tâm tịnh chỉ (cetaso vūpasama). Người có tâm tịnh chỉ, này các Tỷ-kheo, trạo hối chưa sanh không sanh khởi, hay trạo hối đã sanh được đoạn tận.

10. Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỷ-kheo, đưa đến nghi hoặc chưa sanh không sanh khởi, hay nghi hoặc đã sanh được đoạn tận, này các Tỷ-kheo, như lý tác ý (yonisomanasikāra). Nếu như lý tác ý, này các Tỷ-kheo, nghi hoặc chưa sanh không sanh khởi, hay nghi hoặc đã sanh được đoạn tận.


Tăng Chi Bộ Kinh - Chương Một Pháp - Phẩm Đoạn Triền Cái (HT Minh Châu - Dịch Việt)

Tóm tắt bằng bảng:

+ NGUYÊN NHÂN SINH KHỞI:
1. Dục tham (Kāmacchanda)
Vì tác ý đến Tịnh tướng (hảo tướng) (subhanimitta) (nên dục tham khởi lên)
2. Sân (Byāpāda)
Tác ý đến đối ngại tướng (để ý đến tướng sân (paṭighanimitta)) nên sân khởi lên. (Càng ghét thì càng để ý, mà càng để ý thì càng ghét.)
3. Hôn trầm thuỵ miên (Thinamiddha)
Không hân hoan (arati), biếng nhác (tandī), chán nản (vijambhitā) , ăn quá no (bhattasammado), tâm thụ động (līnattaṃ)
4. Trạo hối (uddhaccakukkucca)
Tâm không được chỉ tịnh (cetaso avūpasamo)
5. Nghi hoặc (vicikicchā)
Không như lý tác ý (ayonisomanasikāra)

+ NGUYÊN NHÂN ĐOẠN TẬN:
1. Dục tham (Kāmacchanda)
Tác ý đến Bất Tịnh tướng (asubhanimitta)
2. Sân (Byāpāda)
Tác ý từ tâm giải thoát (mettā cetovimutti)
3. Hôn trầm thuỵ miên (Thinamiddha)
Tinh cần giới (ārambhadhātu), tinh tấn giới (nikkamadhātu), dõng mãnh giới (parakkamadhātu)
4. Trạo hối (uddhaccakukkucca)
Tâm được chỉ tịnh (cetaso vūpasamo)
5. Nghi hoặc (vicikicchā)
Như lý tác ý (yonisomanasikāra)

Con nên hiểu như thế nào là như lí tác ý (yonisomanasikāra) và không như lí tác ý (ayonisomanasikāra)?

*** Theo Tăng Chi Bộ Kinh - Chương Một Pháp - Phẩm Tinh Tấn: (Vīriyārambhādivaggo)
+ Do không như lí tác ý (ayonisomanasikāra):
- Sanh khởi các bất thiện chưa sanh
- Đoạn giảm các thiện pháp đã sanh,
>>> Không như lí tác ý (Tác ý không đúng đắn, để tâm đến đối tượng không thích hợp, đối tượng không nên để tâm) - Đấy là ayonisomanasikāra (không như lí tác ý - vụng tác ý).

+Do như lí tác ý (yonisomanasikāra):
- Sanh khởi các thiện pháp chưa sanh
- đoạn giảm các bất thiện đã sanh.
>>> đó là do như lí tác ý (Tác ý đúng đắn, để tâm đến đối tượng thích hợp, đối tượng nên để tâm) - Đấy là yonisomanasikāra (như lí tác ý – khéo tác ý)

*** Và trong Phẩm Làm Bạn Với Thiện (Kalyāṇamittādivaggo):
+ Do không như lí tác ý (ayonisomanasikāra):
- các giác chi chưa sanh không sanh khởi, và
- các giác chi đã sanh không đi đến tu tập viên mãn, --- đó là do không như lý tác ý.

+Do như lí tác ý (yonisomanasikāra):
- các giác chi chưa sanh được sanh khởi và
- các giác chi đã sanh đi đến tụ tập viên mãn, --- đó là như như lý tác ý.

Friday, October 28, 2016

HƯỚNG DẪN THIỀN NIỆM HƠI THỞ (Buổi thứ 21 – Chủ Nhật 28/7/2009) + (07) Ân Đức SATTHĀDEVAMANUSSĀNAṂ:



                                                         CHÙA TAM BẢO
323 Phan Chu Trinh
Mùa An cư - Phật Lịch 2553 (Dương Lịch 2009)
HƯỚNG DẪN THIỀN NIỆM HƠI THỞ (Buổi thứ 21 – Chủ Nhật 28/7/2009)
Do Ngài Hoà Thượng Pháp Sư - Đại Thiền Sư ASHIN KOVIDA
Thiền Lâm Viện Pa-Auk - Tiểu Bang Mon – Mawlamyine – Myanmar

Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa
ÂN ĐỨC PHẬT BẢO (HỒNG ÂN PHẬT BẢO (tiếp theo)

Trong 9 Hồng Ân của Đức Phật:
Arahaṃ (1), Sammāsambuddho (2), Vijjācaranasampanno (3), Sugato (4), Lokavidū (5), Anuttaro purisadammasārathi (6), Satthādevamanussānaṃ(7), Buddho (8), Bhagavā (9).

+ (07) Ân Đức SATTHĀDEVAMANUSSĀNAṂ:

ÂN ĐỨC THIÊN NHÂN SƯ là Ân Đức Thứ Bảy:
Satthādevamanussānaṃ gồm có 3 từ Pāḷi ghép lại:

- Satthā: có nghĩa là (Đức Phật là) Thầy
- Deva: Chư Thiên (6 cõi Thiên, 20 cõi Phạm thiên)
- Manussānaṃ: (Của) loài người (gồm có cả vua của nhiều quốc độ).

Kết hợp 3 chữ trên có nghĩa là: Thầy của Chư Thiên, Chư Phạm Thiên và Nhân Loại, THIÊN NHÂN SƯ.

Trong cõi nhân gian, đứng đầu các nhóm người, đứng đầu các quốc độ là các vị vua. Trong các Thiên giới, đứng đầu là các vị Thiên Vương, trong các thế giới Phạm thiên, đứng đầu là các vị Đại Phạm Thiên Vương. Trong thế gian này làm thầy thiên hạ thì dễ, nhưng liệu có dễ làm thầy Chư Thiên chăng, việc này không dễ dàng phải không? Có bậc có thể làm thầy thiên hạ được, làm thầy của chư Thiên được, nhưng liệu có dễ làm thầy của cả Chư Đại Phạm Thiên chăng? Không dễ dàng phải không.

Đức Thế Tôn của chúng ta làm Thầy của rất nhiều vị thầy cả, vị quân sư của các vương tôn trong nhiều quốc độ, làm Thầy của Thiên Vương đứng đầu những Thiên giới, là Bậc Đạo Sư của các Đại Phạm Thiên Vương đứng đầu các Phạm Thiên giới. Nhiều như thế nào mà tôn vinh Ngài là THIÊN NHÂN SƯ, là thầy cả của chư Thiên và nhân loại? Rất nhiều: 24 Atăngkỳ và 100.000 koṭi vị trong đó bao gồm Nhân, Thiên hoặc Phạm Thiên[1] đã nhập vào dòng Thánh, chứng đắc được Dự Lưu Đạo-Quả, Nhất Lai Đạo-Quả, Bất Lai Đạo-Quả, và Alahán Đạo-Quả. Vì thế mà Đức Thế Tôn có Hồng Ân là THIÊN NHÂN SƯ vậy.    

Câu hỏi 57: Pháp môn niệm Phật A Di Đà để được vãng sanh tức là đề mục niệm Phật phải không thưa Sư? (Cô ĐMP)

Trả lời:
Đức Phật của chúng ta có rất nhiều Hồng danh: Đấng VÔ BIÊN (Ananta), ĐỨC PHẬT (Buddha), ĐỨC THẾ TÔN (Bhagavā), ĐỨC THẬP LỰC (Dasabala), ĐỨC ĐẠO SƯ (Satthā), ĐẤNG TOÀN GIÁC (Sabbaññū), ĐẤNG CHIẾN THẮNG (Jīna), NHƯ LAI (Tathagatā)… Khi niệm đến những hồng danh này là niệm tưởng cung kính đến Đức Phật. Khi thực hành niệm tưởng đến những hồng danh đó và hiểu được bằng ngôn ngữ của riêng mình, thì ấy chính là niệm Phật, chứ không phải niệm cái tên Adiđà (Amitābha) nào cả, còn có Uṃmaṇipaddhehuṃ nữa kìa[2].  

Nếu biết cách niệm, hiểu rõ việc mình đang làm, niệm bằng ngôn ngữ của mình và hiểu rõ ý nghĩa của Hồng Ân đó, và niệm bằng sự cung kính thì đó là Niệm Phật (Buddhānusati) vậy.

Liên quan đến vấn đề này, tôi sẽ kể cho quý vị một câu chuyện:
- Đức Phật khi ngự tại núi Vedissaka (có những cây nabhe mọc lên xung quanh), trong động lúc bấy giờ có 500 vị Thánh Tăng đương ngự tại đấy để an trú 3 tháng mùa mưa.

Vào ban ngày Đức Phật cùng 500 vị Thánh Tăng rời khỏi động để trì bình khất thực. Đức Phật với đủ 6 quang sắc toả ra cùng với 500 vị Thánh Tăng diện mạo thanh tịnh thành đoàn rão bước. Có một con chim cú đang đậu trên cành cây ở phía trước đó nhìn thấy được như vậy, chim cú không biết những Hồng Danh của Đức Phật là gì, nó chỉ thấy Đức Thế Tôn với 32 Đại hảo tướng, với 80 vẻ đẹp phụ đầy đủ nơi Đức Phật và chư vị Trưởng Lão Thánh Tăng Alahán cao thượng thế thôi. Chim Cú tỏ lòng cung kính bay sà đến gần trước Đức Thế Tôn, mõ nó chúi về phía trước, 2 cánh thì quặp về phía sau xếp lại, nó đã cung kính lễ Phật như vậy. Một biểu hiện tự nhiên của loài động vật. Nó không thốt lên thành tiếng gì cả mà chỉ biểu hiện bằng thân của nó.

 Lúc đó Đức Phật Ngài mĩm cười. Ngài Ananda bèn hỏi: “Bạch Đức Thế Tôn, tại sao Ngài mỉm cười?” “Này Ananda! Ông nhìn kia, Ông có thấy con chim cú đang đãnh lễ Như Lai ở đằng trước hay không? Khi con chim cú này chết đi, nó sẽ sanh làm một vị Thiên Nam ở cung trời Tam Thập Tam Thiên (Tāvatiṃsa), thọ mạng dài một 100.000 Đại kiếp, không bao giờ bị đoạ sanh vào 4 ác đạo, luôn được thọ hưởng Thiên lạc. Kiếp cuối cùng sẽ là một vị Phật Độc Giác có tên là Somanassa đấy, ông biết không?  Niệm Phật công đức, phước lành lớn vô biên như vậy đấy, lớn tới mức nào? Chí ít 100.000 đại kiếp thọ hưởng những Thiên lạc, và kiếp cuối cùng thành tựu quả vị Phật Độc Giác. Nay con chim cú ấy vẫn còn đang ở trên cõi trời Tam Thập Tam Thiên vậy.

Loài động vật, loài súc sanh bằng hành động tự nhiên của nó, đã đãnh lễ đến Đức Thế Tôn mà được Phước lành lớn như vậy. Loài súc sanh này không hiểu gì về ân đức Phật mà chỉ thể hiện cung kính Đức Phật tự nhiên như vậy mà lại được Phước lành lớn thay. Chúng ta, không chỉ bằng khẩu để nói niệm lên Ân Đức Phật không thôi, lại còn niệm tưởng đến ân đức ấy nơi tâm thì công đức phước lành lớn biết bao nhiêu phải không?

Câu hỏi 58:  Còn Pháp môn tụng kinh và trì chú thì thuộc đề mục nào Bạch Sư? (Cô ĐMP)

Trả lời: Tụng các bài kinh như Paritta, cũng là niệm Pháp (Dhammānussati).
Buddhānussati (Niệm Phật) như niệm: Arahaṃ (1), Sammāsambuddho (2), Vijjācaranasampanno (3), Sugato (4), Lokavidū (5), Anuttaro Purisadammasārathi (6), Satthādevamanussānaṃ (7), Buddho (8), Bhagavā (9) – Đây là niệm Phật.

Tụng kinh Paritta, tụng kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammacakkapavattanasutta), tụng kinh Đại Niệm xứ (Mahāsatipaṭṭhāna), đó chính là niệm Pháp rồi.

Niệm 32 thể trược, niệm Buddhaṃ saraṇam gacchāmi,
Dhammaṃ saraṇaṃ gacchāmi,
Saṅghaṃ sāranaṃ gacchāmi, … đây cũng là niệm Pháp.

Trong 40 đề mục Thiền Định thì có 10 Đề mục Tuỳ niệm, nó thuộc 10 đề mục tuỳ niệm này.

Câu hỏi 59: Còn vấn đề ăn chay và ăn mặn (cô ĐMP)

Trả lời: Tỷ kheo, ông Devadatta (Đề-bà-đạt-đa) đến yêu cầu Đức Phật thực hiện 5 điều sau:

1.    Một vị Tỳ khưu phải sống trong rừng, sống dưới những cội cây
2.    Một vị Tỳ Khưu phải sống nương nhờ vào việc khất thực
3.    Một vị Tỳ khưu phải mang y dơ nhặt từ đống rác, nhặt tại nghĩa địa (Y phấn tảo)
4.    Một vị tỳ khưu nên dùng vật thực không có sự sát hại (Ăn chay)
5.    Một vị tỷ kheo phải ở nghĩa địa (hạnh đầu đà nghĩa địa)

- Xin Đức Thế Tôn hãy chấp nhận thành giới điều cho các vị Tỷ kheo.” Ông ta đã trình lên Đức Phật như vậy.

Đức Phật trả lời: “Vị Tỳ kheo có thể thọ y phấn tảo nếu muốn. Vị ấy có thể ở tại nghĩa địa, có thể thọ nhận vật thực chay (không có sự sát hại), hoặc có thể đi khất thực.” Nói như vậy nghĩa là Đức Phật không đồng ý với Devadatta. Tại vì sao? Bởi vì các vị thọ đời xuất gia Tỷ kheo có được những quả lành của các phước nghiệp công đức trong các đời trước của họ. Vì đó là những phước nghiệp công đức mà họ đang thọ lãnh, Đức Phật không hề ngăn cản. Vì thế mà chúng ta nên tôn trọng vật thực của nam nữ tín thí.

Một vị Tỷ kheo có thể khất thực nếu muốn. Và như thế vật thực mà thí chủ dâng cúng dù chay hay mặn đều có thể thọ dụng được. Tỷ kheo có nghĩa là người dễ nuôi: cho gì thọ dụng nấy; được chi thì thọ nấy. Nên gọi là Yathālābha santosa (có được như thế nào thì bằng lòng như thế ấy, biết đủ với vật thực mình có, có chi dùng nấy). Chỉ ăn chay thôi, ăn mặn không được hoặc chỉ ăn mặn thôi, ăn chay không được… như vậy là người khó nuôi, làm khó khăn cho thí chủ.

Được gì thì dùng nấy. Người thọ nhận vật thực như thế không lỗi lầm gì. Vì vậy mà khi Devadatta cầu xin Đức Phật 5 điều trên, Ngài không chấp nhận. Việc dùng chay không thấy Đức Phật chế định thành điều luật. Nam nữ thí chủ dâng cúng đến vị Tỷ kheo, được gì thì thọ nhận nấy. Đấy là điều Đức Phật cho phép. Vì thế mà việc thọ nhận chay hay mặn không có lỗi lầm gì.

Sādhu!Sādhu!Lành thay.

(Dứt buổi thứ 21)



[1] - 100.000 koṭi = mười ngàn tỷ; 1 A-tăng-kỳ (Asaṅkheyya) là một đơn vị tính = 10140.
[2] - Miến Điện là một quốc độ mà Phật Giáo Theravāda hầu như đa số. Việc học hiểu Tam Tạng Kinh Điển bằng ngôn ngữ Pāḷi là chủ yếu. Người dịch cũng đã thử tra cứu trong chương trình Tam Tạng Kinh Điển Pāli (Chaṭṭhasangāyana phiên bản 4) để tìm xem chữ Adiđà (Amitābha hoặc Amitabbha ) có xuất hiện trong Kinh nào trong Tam Tạng Kinh Điển thì tìm không thấy. - Quý vị có thể tìm hiểu quan điểm “Tịnh Độ” trong Phật Giáo Theravāda, xin tìm đọc cuốn “Biết và Thấy” trang 436 - Của Ngài Đại Lão Hoà thượng Thiền Sư U Acinna (Viện Chủ Thiền Lâm Viện Pa-Auk) - Đại Đức Pháp Thông dịch Việt, hoặc có thể tìm đọc cuốn “Knowing and Seeing” (lần xuất bản mới nhất) – Trang 235, (lần xuất bản cũ trang 284)). (còn ở trang kế >)
Riêng Chữ UM (hay chữ Om) = Về ngữ pháp Pāḷi (âm Om là sự kết hợp của A+U+Ṃ (có nghĩa là Kính lễ (đến)+Maṇipaddhehuṃ (ommanipadmehum) - (đãnh xương trán của Đức Phật như vương miệng bằng ngọc Maṇi – Niệm như vậy cũng là một cách niệm tưởng Đức Phật mà thôi. Ngài Thiền Sư giải thích.)