Sunday, October 9, 2016

HƯỚNG DẪN THIỀN NIỆM HƠI THỞ (Buổi 2 – Ngày thứ 5 – 09/7/2009)



CHÙA TAM BẢO
323 Phan Chu Trinh
Mùa An cư - Phật Lịch 2553 (Dương Lịch 2009)

HƯỚNG DẪN THIỀN NIỆM HƠI THỞ (Buổi 2 – Ngày thứ 5 – 09/7/2009)
Do Ngài Hoà Thượng Pháp Sư - Đại Thiền Sư ASHIN KOVIDA
Thiền Lâm Viện Pa Auk - Tiểu Bang Mon – Mawlamyine – Myanmar


Câu Hỏi 4: Thỉnh thoảng con thấy hơi thở biến mất trong khoảng 5 – 10 phút, để ý thật lâu thì hơi thở xuất hiện trở lại. tại sao lại như vậy? Con có thể tiếp tục như vậy được không? (Cô Tường)

Trả Lời:
Những người hành thiền khi có định thì HTV-HTR có thể biến mất, hành giả nghĩ rằng hơi thở không còn nữa. Thật ra, HTV-HTR lúc bấy giờ trở nên vi tế. Nếu hơi thở thường xuyên trở nên vi tế như vậy đối với vị hành giả, nghĩa là những thọ khổ thuộc về thân (khổ thân) và những thọ khổ thuộc về tâm (khổ tâm) đang ngưng bặt. Thọ khổ thuộc thân (đau nhứt, tê ngứa, mỏi) và thọ khổ thuộc tâm (khó chịu, nóng nảy, lo âu, thất vọng…) ngưng bặt, còn HTV-HTR thì vi tế. Còn nếu thọ khổ thuộc về thân - thọ khổ thuộc về tâm xuất hiện nhiều – HTV-HTR của hành giả rõ ràng sẽ thô tháo.

          Nếu những thọ khổ về thân và thọ khổ về tâm ngưng bặt, luồng HTV-HTR vi tế, hành giả nghĩ rằng hơi thở đang biến mất, song thực tế thì HTV-HTR rất là vi tế nhưng vẫn đang có mặt, vẫn đang vào, vẫn đang ra.

          HTV-HTR không có hiện hữu nơi 7 loại người sau đây:
1.    Những người đang nằm trong bụng mẹ
2.    Những người chìm trong nước
3.    Những người hôn mê, bất tỉnh
4.    Những người đã chết
5.    Những vị nhập Diệt thọ tưởng Định (Nirodhasammāpatti): Đức Phật – chư vị Alahán khi đã nhập vào Diệt thọ tưởng Định – HTV-HTR không xuất hiện
6.    Phạm thiên Sắc Giới - Phạm thiên Vô Sắc Giới
7.    Những vị hành giả khi đang nhập Tứ thiền, không còn HTV-HTR.


Có 7 hạng người không có HTV- HTR như vậy, hành giả lại không thuộc 1 trong 7 loại trên: nghĩa là hành giả không nằm trong bụng mẹ, không chìm trong nước,… nên HTV-HTR vẫn còn. Nếu tiếp tục chú ý theo dõi, tại chỗ HTV-HTR xúc chạm (ở lỗ mũi) thì sẽ thấy hơi thở xuất hiện trở lại.  


Câu Hỏi 5: Việc giữ năm giới của người Phật tử tại gia, có liên quan gì đến việc hành thiền niệm hơi thở không? (Cô Nguyễn thị Hồng)

Trả lời: Có.
Trong việc hành thiền để thanh lọc Tâm, tất cả có 7 giai đoạn Thanh tịnh (Visuddhi):
Thực hành thanh tịnh giới (sīlavisuddhi) là bước đầu tiên để thanh tịnh trong quá trình thanh lọc tâm.

- Sīlavisuddhi (Giới thanh tịnh): Các thân nghiệp bất tịnh, các khẩu nghiệp bất tịnh, “Kāyaducarita, Vācīducarita” nếu không giữ giới sẽ không thể kiểm soát được. Vì thế phải thực hành thanh tịnh bằng Giới.

- Kế đó là Tâm thanh tịnh (Cittavisuddhi): Dù đã thanh tịnh giới, nghĩa là thanh tịnh Thân nghiệp và khẩu nghiệp song trong tâm ý vẫn còn có những suy nghĩ bất thiện, và như thế Giới (Sīla) vẫn không thể làm cho tâm ý thanh tịnh trong sạch được. Tâm phải được thanh tịnh nhờ Định (Samādhi). Được gọi thanh tịnh bằng Định (Samādhi). Trong lúc chú ý nhận biết HTV-HTR, những Tâm ý bất thiện manoducarita - những bất thiện pháp chưa sanh khởi nơi tâm, những suy nghĩ xấu xa, bất thiện chưa sanh khởi, tất cả đều ngưng bặt. Và như vậy, cả Giới (thân hành-khẩu hành) cũng được thanh tịnh và cả Tâm (ý hạnh) cũng được thanh tịnh. Nếu tâm đã được thanh tịnh, tri kiến của hành giả cũng được thanh tịnh, trong sạch. Như vậy đến đây có được 3 giai đoạn thanh tịnh: Giới Thanh Tịnh (Silavisuddhi) – thanh tịnh bằng Giới, Thanh Tịnh Tâm (Cittavisuddhi) – Thanh tịnh bằng Định, Thanh tịnh Tri Kiến (Diṭṭhivisuddhi) – Thanh tịnh bằng Tuệ

1. Thanh tịnh bằng Giới
2. Thanh tịnh bằng Định
3 Giới và Định đã thành tựu rồi, Tuệ được thanh tịnh. Khi được thanh tịnh như vậy, tâm bấy giờ rất trong sạch, rất thanh tịnh. Vì thế, việc gìn giữ giới là cần thiết cho những người muốn thực hành thiền.


Câu hỏi 6: (xin Tóm lược câu hỏi) Trong buổi trước Ngài có hướng dẫn về thế ngồi, con thấy khác với thế ngồi Hoa sen (Kiết Già của Đức Phật) vậy có gì khác nhau trong những thế ngồi đó, Đức Phật ngồi như vậy hẳn có một ý nghĩa nào đó, vậy con nên thực hành thế ngồi nào? (cô Đoàn M Phương)

Trả lời: Những người ngồi trong tư thế ngồi của Đức Phật, từ Pāḷi gọi là Buddhapallaṅka, - (người Việt thường gọi là ngồi Kiết Già, ngồi thế Hoa sen – chú thích người dịch). Đức Bồ tát ngồi thế kiết già, và đã phát nguyện: “Nếu Ta không thành Phật ta sẽ không bao giờ rời khỏi chỗ này. Dù bất kì một nguy hiểm nào đến tính mạng, dù bất kì ai đến cản ngăn đi nữa, khi Ta chưa thành Phật thời ta sẽ không đứng dậy.” Ngài đã phát đại nguyện như vậy và ngồi xuống với thế ngồi kiên định này, không hề thay đồi một thế ngồi nào khác cả. Thế ngồi ấy là thế ngồi Kiết Gìa, thế ngồi hoa Sen. Khi Đức Bồ tát lúc nhập vào thế ngồi ấy, ngài vẫn chưa thành tựu Quả vị Phật. Hãy thử so sánh trong lúc Đức Bồ tát ngồi xuống trong tư thế kiết già với những  người bình thường khác (chưa chứng một Pháp nào - chỉ là một người bình thường) – “Phật Quả Chẳng thành ta chẳng rời” Quyết định như thế, khi Ngài ngồi xuống, Mavương phía trái 12 do tuần, phía sau tất cả rất nhiều do tuần, tất cả quân ma cùng với binh khí lăm lăm xông đến ép buộc Đức Bồ Tát phải rời thế ngồi, rời bồ đoàn. Hét lớn để uy hiếp cùng tất cả mọi binh khí đều phóng đến Đức Bồ Tát, song Ngài vẫn không hề thối thoát rời bỏ thế ngồi. Đức Bồ Tát đã toàn thắng Ma vương và thành tựu Phật Quả như vậy đó. Nếu quý vị muốn ngồi và quyết tâm bằng cả sanh mạng của mình như Đức Bồ Tát thì có thể ngồi được. Còn nếu như quý vị vẫn chưa thể xả bỏ sanh mạng của mình được, lại muốn ngồi như Đức Bồ Tát, thì không thể nào ngồi được.


Câu hỏi 7: (tóm tắt câu hỏi), Trước khi ngồi thiền, một số người khuyên con nên tụng một bài kinh nào đó, chẳng hạn kinh Paritta, niệm Phật, rải tâm từ, tưởng tượng hình ảnh Đức Phật… Con thực hành như vậy trước khi Hành thiền Niệm Hơi Thở được không? (cô Đoàn M Phương)

Trả Lời: Tốt lắm. Trước khi thực hành thiền, những việc trên gọi là Parikamma, (Công việc trước tiên). Chẳng hạn như có thể đảnh lễ, niệm tưởng Ân Đức Tam Bảo. Sau đó những lỗi lầm chúng ta đã gây cho người khác, xin người khác tha thứ; người khác gây ra cho chúng ta; chúng ta có thể tha thứ. Thứ nữa có thể tụng kinh Paritta, có thể Niệm tưởng Ân Đức Phật,.. những việc làm như vậy gọi là những việc làm đầu tiên (Parikamma), tiền sự (parikicca). Nếu làm được như thế quả thật rất tốt. Mỗi khi vị ấy hành thiền vị ấy tránh được những nguy hiểm. Các thân bằng quá vãng sẽ hộ trì cho người ấy. 

    
Phần cuối của buổi do Ngài Hoà Thượng động viên:
Sau đây tôi sẽ nói lại ân đức của việc Hành thiền:

Có ông trưởng giả Cấp Cô Độc (A-nā-tha-pin-di-ka)
Có bà tín nữ Vi-sa-kha
Có lão phú hộ tên Ci-tta
Có người cận sự Dham-mi-ka,
Và Những vị Thiên tử,
những vị Đại Phạm thiên,
nay đương ở thiên giới…

Tất cả những vị ấy,
thời Đức Phật tại tiền,
đã nổ lực Hành thiền
trong Giáo Pháp quang minh
và đạt được an vui
trong phúc lạc Thiên Giới,...

          Trưởng giả Anāthapiṅdika sau khi thân hoại mệnh chung đã hưởng thiên lạc trong những thiên cung nguy nga, tráng lệ trở về thuật lại cho Đức Thế Tôn: Bạch Đức Thế Tôn, nay con đạt được thiên cung nguy nga tráng lệ này, phúc lạc thiên giới này, là bởi nguyên nhân gì?

Qủa lành này, này ông cận sự, đấy tất cả là của ông đã tạo, ông đã xây dựng tự viện, không bao giờ quên ân đức tam bảo, hộ độ chúng tăng, chuyên tâm thính Pháp, và nổ lực hành thiền, những quả lành ấy, nay ông đang thọ hưởng.

Đức Phật thuyết:  
Idha modati pecca modati, katapuñño ubhayattha modati;
So modati so pamodati, disvā kammavisuddhimattano. (Dhammapada 16)

Dịch nghĩa: Người có việc phước thiện đã được làm, vui sướng ở đời này, vui sướng cả đời sau, vui sướng cả 2 đời. Sau khi nhìn thấy sự trong sạch ở việc làm của bản thân, thấy kết quả của sự nổ lực hành thiền, những phước thiện mình đã làm được thời người ấy rất sung sướng, hoan hỷ. (Pháp cú số 16)

Mỗi khi người ấy thấy được như vậy, người ấy thường nghĩ đến ân đức chúng Tăng phải vậy không?
Vậy khi tất cả chúng ta đây đang cố gắng hành thiền, tôi muốn nói đến 5 quả lành:
1. Jīvitaṃ: người hành thiền biết được tuổi thọ của mình.
2. Byādhi: Người ấy biết được mình sẽ mắc bệnh gì
3. Kāla: Vào thời gian nào người ấy sẽ phải từ bỏ cuộc sống này, 
4. Desa: Nơi mộ địa sẽ xả bỏ xác thân này
5. Gati: Nơi nào sẽ tái sanh đến.


Trong thế gian này có những người không thể biết được 5 điều đó. Những người đương nổ lực hành thiền chúng ta sẽ biết được những điều đó: Tôi thọ hưởng bao nhiêu tuổi, Tôi sẽ mắc bệnh hay không, Lúc nào tôi sẽ chết: Sáng, trưa, hay chiều tối, vào mùa mưa, hay mùa nắng,…. Nơi mộ địa nào tôi sẽ bỏ lại xác thân, Cảnh giới tái sanh nào tôi sẽ đến: chẳng hạn Tôi sẽ được sanh làm người, tôi sẽ được sanh thiên, tôi sẽ sanh về Phạm thiên,v.v. Người ấy biết được cảnh giới tái sanh của mình. Trong thế gian này những người không biết 5 điều này, còn những vị hành giả chúng ta sẽ biết được 5 điều này. Vì thế Chúng ta sẽ tri ân đến việc Hành thiền này.  

 
Câu hỏi 8: Làm thế nào để hành thiền (xem câu hỏi 1 buổi 1)? Trước khi hành thiền nên làm những gì cụ thể. Sau khi hành thiền nên làm gì? Đối với chúng con chưa được thành tựu trong việc hành thiền thì có nên hồi hướng không? Nếu có thì nên Hồi hướng như thế nào? (Cô Nguyễn Thị Hồng)

Trả lời: Nghĩa của việc hồi hướng Phước Báu:
Những người đã làm hoàn thành bất cứ việc thiện nào muốn chia xẻ với một người khác. Để hồi hướng, để chia sẻ phước báu, trước hết, việc thiện ấy cần phải được thực hiện xong. Khi đã có rồi, người ấy có thể chia xẻ được.
Đối với những người đã quá vãng, người ấy không thể chia xẻ trực tiếp được, ví dụ: vải vóc y phục, nhà cửa, thức ăn thức uống, xe cộ không thể đem cho trực tiếp được. Nếu muốn một người có thể chia sẻ, bố thí những thứ đó được.
Sau khi đã cho đi, nghĩa là sau khi đã thực hiện xong việc phước thiện, những quả lành mà chúng ta đã làm được có thể hồi hướng.

Ví dụ:
Muốn họ nhận được vải vóc, chúng ta phải dâng cúng vải vóc,
muốn họ nhận được nước – chúng ta phải dâng cúng nước.
muốn họ nhận được dép  – chúng ta phải dâng cúng dép
muốn nhận được chỗ trú ngụ - chúng ta phải dâng cúng chỗ trú ngụ, chòi, nhà cửa nếu không thể dâng cúng nhà cửa chúng ta có thể dâng cúng dù
muốn họ nhận được thức ăn, thức uống – chúng ta nên dâng cúng thức ăn thức uống
Chúng ta muốn cho người đã quá vãng vật gì, trước tiên chúng ta phải có được những phước lành ấy để chia xẻ cho những người đã quá vãng.

Thành tựu Ba chi Phần:
1.    Có mong mỏi cho người quá vãng:
2.    Người nhận có giới hạnh
3.    Sau khi người làm phước thiện xong và hồi hướng, người quá vãng nói lời “sādhu, sādhu lành thay”
4.     
Khi dã thành tựu 3 chi phần này người quá vãng sẽ thọ nhận được phần phước báu ấy.
Có chuyện: Một người đã từng là Mẹ của Ngài Xá lợi Phất trong năm kiếp quá khứ trước đó, trong kiếp này là một ngạ quỷ, vì mẹ mà Ngài đã dâng cơm nước - y phục – Dù – dép đến chư Tăng xong và hồi hướng Phước ấy.

Một chuyện khác: vua Bình Sa Vương (Bimbisara), Đức vua thành Vương xá (Rājagaha) đã dâng cúng Cơm nước, y phục đến Đức Phật và chư Tăng để hồi hướng phước ấy đến hoàng thân quốc thích đã quá vãng thành Ngạ quỷ. Những câu chuyện tương tự như thế rất nhiều.

Chi phần 2: Người thọ nhận là người phải có giới hạnh:
Trong chi Phần này, có thể Dâng cúng đến Chư Tăng, vật dâng cúng dâng đến Tăng trở thành Tài sản của Tăng, phước báu rất cao thượng thù thắng.
Nếu người không có giới hạnh – không thể có được chi phần này.

Phần tiếp theo: Những việc nên biết Trước khi Hành Thiền (Parikamma)
1.    Thọ giữ 5 giới
2.    Niệm tưởng Ân Đức Tam Bảo, Ân đức Phụ Mẫu, tha thứ lỗi lầm cho người,
3.    Xin người tha thứ lỗi lầm
4.    Rải tâm từ - tụng hộ Kinh Paritta, Paṭṭhāna nếu có thể.
5.     

Sādhu! Sādhu! Lành thay!
(Dứt buổi thứ 2)

Saturday, October 8, 2016

HƯỚNG DẪN THIỀN NIỆM HƠI THỞ



---------------  CHÙA TAM BẢO  --------------
323 Phan Chu Trinh
Mùa An cư - Phật Lịch 2553 (Dương Lịch 2009)

HƯỚNG DẪN THIỀN NIỆM HƠI THỞ (Buổi 1 – Ngày thứ 4 – 08/7/2009)
Do Ngài Hoà Thượng Pháp Sư -  Đại Thiền Sư ASHIN KOVIDA
Thiền Lâm Viện Pa Auk - Tiểu Bang Mon – Mawlamyine – Myanmar


Câu Hỏi 1: Con là người mới bắt đầu hành thiền, xin hướng dẫn cho con phương pháp cơ bản để hành thiền niệm hơi thở. (Cô Phạm Thị Nam)

Trả Lời:
Trước hết tôi sẽ giải thích một vài điểm quan trọng sau đây trong việc hành thiền của một vị Hành giả (Yogi):
Sự chú ý theo dõi một đối tượng thường xuyên xuất hiện trên thân thể của một người bình thường được gọi là việc Hành thiền. Đối tượng đang thường xuyên xuất hiện trên thân thể đó chính là Hơi thở vào (viết tắt là HTV) và hơi thở ra (viết tắt là HTR). Luồng hơi đi vào - luồng hơi đi ra (HTV) & (HTR) thường xuyên xuất hiện. Một người nếu không có HTV và HTR thì gọi là người chết, không còn sự sống. Từ khi bắt đầu sanh ra cho đến khi chết đi, cái thường xuyên xuất hiện chính là hơi thở. Việc chú ý nhận biết theo dõi HTV & HTR gọi là việc hành thiền niệm hơi thở (ānāpānasati).

Trong việc thực hành theo dõi HTV-HTR, đòi hỏi vị hành giả trước hết nên giữ tâm an vui, mát mẻ, tỉnh táo, sáng suốt, để tâm thoải mái, dễ chịu. Vị hành giả ý thức được rằng: “Tâm của tôi đang an tỉnh, mát mẻ, sáng suốt, thoải mái, dễ chịu; tâm của tôi chẳng có một chút lo âu, sợ hãi – nóng nảy nào; không có một tham muốn nào, không có sân hận buồn bực nào, kiêu mạn nào khởi lên nơi tâm của tôi”. Với Tâm hiện thời đang an tỉnh, sáng suốt, nhẹ nhàng, mát mẻ, thoải mái này, hành giả sẽ thở hơi thở vào, hành giả sẽ thở hơi thở ra.

HTV là luồng hơi chạm lỗ mũi và đi vào, chú ý nhận biết đến luồng hơi đó là HTV.
HTR là luồng hơi chạm lỗ mũi và đi ra, chú ý nhận biết đến luồng hơi đó là HTR.
Nên chú ý nhận biết hơi thở đi vào - hơi thở đi ra, Hơi thở đi vào – Hơi thở đi ra trong tâm. Sự nổ lực chú ý nhận biết HTV – HTR như vậy gọi là việc nổ lực hành thiền niệm hơi thở.

Việc thường xuyên chú ý nhận biết HTV – HTR như vậy có những lợi ích gì?
Việc để tâm chú ý nhận biết đối tượng hơi thở thường xuyên liên tục như vậy, nếu kiểm tra tâm mình hành giả sẽ nhận thấy rằng: Tâm của vị ấy không bị Tham xâm nhập, Sân hận, bực tức – kiêu mạn không thể xâm nhập; lo âu - buồn bực không thể xâm nhập. Tất cả những Tâm bất thiện (viết tắt là TBT); tất cả những phiền não, không thể xâm nhâp được. Tất cả những Bất thiện pháp (viết tắt là bất thiện pháp), những tâm bất trị kia không thể xâm nhập, hay nói cách khác tâm hành giả đang vắng lặng các bất thiện pháp, tham, sân,… nên được gọi là Samatha (Thiền Chỉ). Trong việc hành thiền – hay tập trung chú ý nhận biết HTV – HTR, Khi Tâm đã vắng lặng các bất thiện pháp, các phiền não…, đây chính là kết quả đầu tiên mà vị hành giả đạt được. Tâm hành giả khi ấy trong sạch, sáng suốt, an tỉnh, thanh tịnh, không một bất thiện pháp nào có thể xâm nhập được. Không để các bất thiện pháp thâm nhập như vậy, vị ấy tiếp tục chú tâm nhận biết HTR – HTV, HTR – HTV.

Trước hết thực hành trong khoảng 10 phút, nếu được rồi thì tiếp tục tăng lên 20 phút, hoặc 30 phút nữa. Đối tượng HTV – HTR được chú ý nhận biết liên tục rồi, tâm không phóng chỗ này chỗ kia nữa, chỉ có HTV – HTR mà thôi, tâm không để ý đến các đối tượng nào khác nữa. Nếu tâm được thiết lập liên tục không gián đoạn trên đối tượng hơi thở như vậy, đến đây đã thành tựu Giai đoạn thứ nhất: thiết lập niệm liên tục – hay sự chú ý nhận biết được duy trì liên tục. Nếu giai đoạn thứ nhất thành tựu được, tất cả các giai đoạn còn lại của Thiền Niệm Hơi thở cũng sẽ tự động thành tựu. Bốn giai đoạn ấy là:

Biết liên tục HTV–HTR đang DÀI hoặc đang NGẮN, (1-2)
Biết được toàn bộ HTV–HTR rõ ràng, Biết đầu - giữa - cuối của mỗi HTV- HTR (3)
Biết được HTV–HTR vi tế. (4)
Nếu niệm được thiết lập liên tục trên đối tượng hơi thở đã được thành tựu, thì tất cả các giai đoạn còn lại cũng sẽ thành tựu. Vì thế để thành tựu được Niệm thơi thở, thì hãy thiết lập sự chú ý nhận biết hơi thở cho được liên tục được chừng nào tốt chừng nấy. Như vậy gọi là nổ lực hành thiền NHT trong giai đoạn thứ nhất.


Câu hỏi 2: Trong lúc hành thiền niệm hơi thở, suy nghĩ xuất hiện nhiều, con không thể tập trung được, con nên làm sao? (Cô Phạm thị Nam)
Trả lời:  Nếu mà nói suy nghĩ nhiều, phóng tâm nhiều, trạo cử nhiều khiến chúng ta không thể hành thiền niệm hơi thở được, hãy lắng nghe lời Đức Phật: {Pāḷi}
Ānāpānaṃ mohacaritassa vitakkacaritassa ca sappāyaṃ,… (Abhidhammatthasaṅgaho)

Nghĩa từng chữ như sau:
Ānāpānaṃ: Niệm hơi thở (ānāpānakammatthāna)                                                                              
Mohacaritassa ca: cho người có tánh si, mê muội, (và)
vitakkacaritassa ca: cho Người thường hay phóng tâm, vọng động, trạo cử, hối quá
sappāyaṃ: thích hợp, có ích.

Dịch nghĩa:
“Niệm hơi thở thích hợp cho những người có tính mê muội (muội lượt), những người tánh si, những người thường hay suy nghĩ, phóng tâm, vọng động, trạo cử, hối quá…
Vậy: Nếu nói trong việc thực hành niệm hơi thở lại xuất hiện phóng tâm nhiều, trạo cử nhiều thì như vậy, e lại không đúng với những lời Đức Phật đã thuyết sao?  

Khi niệm hơi thở - theo dõi chú ý nhận biết HTV – HTR, trạo cử, vọng động, phóng tâm xuất hiện nhiều như thế nào nơi tâm thì có thể biết được. Quý vị trước kia chưa từng hành thiền NHT, có biết Tâm mình phóng dật, vọng động, trạo cử nhiều như vậy hay chưa? Nếu không có hành thiền NHT quý vị sẽ không biết được tâm mình vọng động, phóng dật, trạo cử, suy nghĩ, lo lắng nhiều như vậy phải không? Vì có được năng lực tập trung - chú ý nhận biết HTV-HTR nên quý vị biết được điều đó. Đối với những người không có năng lực tập trung – chú ý nhận biết HTV-HTR; những người không thực hành thiền thì không thể biết được điều đó.

Vì biết được như vậy, sự tiến bộ đã bắt đầu nơi vị ấy, sự định tâm sẽ sinh khởi ở người ấy, sự chú ý nhận biết sẽ phát triển ở người ấy. Vì thế khoảng 10 phút, vị ấy khởi ý: “Tôi sẽ không cho tâm phóng đi nơi này nơi khác, không vọng động chuyện này chuyện kia, chỉ để ý đến đối tượng HT mà thôi” Vị hành giả giáo hoá tâm của mình như vậy. Trước tiên vị ấy thực hành khoảng 10 phút, nếu được 10 phút rồi tiếp tục thêm 10 phút nữa,+…. Và cứ tiếp tục mỗi lần gia tăng như vậy, sau này trong khoảng 1 giờ đồng hồ tâm của vị ấy sẽ không còn vọng động phóng đi chỗ này chỗ khác nữa. Chỉ còn tâm (sự nhận biết) và đối tượng mà thôi. Tâm đã đạt được chỗ an trú của nó. Việc cho an trú tâm vào một chỗ trú ngụ được gọi là việc hành thiền. Chỗ an trú là chỗ nào? chỗ an trú là HTV-HTR, nói cách khác tâm được an trú trên đối tượng HTV-HTR. Tâm khi không được an trú nó có thể phóng đến bất cứ chổ nào nó thích, nghĩ những gì nó thích như vậy đó. Khi đã có được chỗ an trú, việc nổ lực an trú tâm như vậy gọi là việc hành thiền.      

Câu hỏi 3: Khi con ngồi thường hay bị tê nhức, con nên ngồi như thế nào? (Cô Phạm Thị Nam)
Trả lời: Trong thân này, thọ khởi lên bao nhiêu thì khởi: đau nhức, mỏi, tê, ngứa ngáy, khó chịu…, những thọ này xin đừng để ý đến. Chỉ chú ý đến HTV-HTR mà thôi. Hơi thở đang vào – hơi thở đang ra. Hãy nhớ, tất cả những cảm thọ sinh khởi trên thân xin đừng để ý đến. HTV và HTR: chỉ có hai điều đó là đáng chú ý nhận biết đến mà thôi. Nếu để ý đến các cảm thọ trên… thì các cảm thọ sẽ xuất hiện mỗi lúc một nhiều hơn và làm phiền, quấy rầy việc chú ý nhận biết hơi thở của hành giả. Chỉ để ý đến HTV-HTR mà thôi. Nếu cứ tiếp tục theo dõi HTV-HTR như vậy, các cảm thọ sẽ dần dần loại trừ. Cuối cùng trong việc thực hành Niệm hơi thở, các cảm thọ đó sẽ không còn xuất hiện nữa. Nếu không để ý đến chuyện: “Tôi đang ngứa, tôi đau nhức, tôi mỏi…” thì ngứa ngáy, đau nhức, tê mỏi sẽ không tiếp tục gia tăng. Tất cả các cảm thọ đã ngưng bặt do việc duy trì liên tục sự chú ý nhận biết đến hơi thở. Hãy nhớ để có thể làm ngưng các cảm thọ đó chỉ có việc để ý đến HTV-HTR mà thôi.

Tư Thế ngồi:
1.      Không nên đặt chân này chèn lên chân kia, nếu đặt chân này chèn chân kia sẽ không ngồi lâu được. (có vị thị giả của Ngài ngồi mẫu)
2.      Lưng giữ thẳng
3.      Đầu không gục về phía trước, không ngã ra phía sau, chỉ nhìn thẳng về phía trước.
4.      Mắt nhắm không chặt quá, chỉ nhẹ nhàng nhắm lại.
5.      Tay phải đặt lên tay trái, hai ngón cái chạm vào nhau. (hoặc ngược lại tuỳ ý)
6.      Giữ Tâm thư thái, nhẹ nhàng, an tỉnh, sáng suốt.

7.      “Tâm của tôi đang thư thái, nhẹ nhàng, an tỉnh, sáng suốt, chẳng còn chút lo âu, buồn bực, thất vọng, sợ hãi nào. Với tâm an tỉnh nhẹ nhàng sáng suốt như vậy, tôi sẽ hướng tâm đến HTV-HTR, Phương Pháp niệm hơi thở này là Phương pháp của Bao đời chư Phật từ trong quá khứ đến vị lai. Tôi ý thức rất rõ tôi đang thư thái, an tỉnh, sáng suốt thực hành phương pháp thiền của Chư Phật. Tôi sẽ thực hành đúng đắn phương pháp ấy.” vị ấy khởi niệm như vậy.



8.      + Các kết quả, lợi ích của Phương Pháp Niệm Hơi thở: Có 5
1.      Tâm trong sạch, thanh tịnh,
2.      Lo âu, buồn bực, thất vọng, căng thẳng sẽ biến mất
3.      Thọ khổ về thân, thọ khổ về tâm sẽ chấm dứt
4.      Sinh khởi các loại trí
5.      Chứng ngộ được Niết Bàn
Hay còn gọi là sẽ chứng ngộ được Niết Bàn với 5 quả báu.

Sādhu! Sādhu! Lành thay!
(Dứt buổi thứ nhất)

Friday, October 7, 2016

Ít muốn và Biết đủ

A. Mở đề:                                                                                                                     
Sabbapāpassa akaraṇaṁ
kusalassa upasampadā
Sacittapariyodapanaṁ
etaṁ buddhāna sāsanaṁ.

Not to do evil,
To cultivate merit,
To purify one’s mind,
This is the Teachings of the Buddhas,
183. Không làm mọi điều ác.
Thành tựu các hạnh lành,
Tâm ý giữ trong sạch,
Chính lời chư Phật dạy.
Không làm những điều ác,
Thực hiện các việc lành,
Giữ tâm ý trong sạch,
Chính lời chư Phật dạy.
(Dhammapada, verse 183)

Người đời phần nhiều thường đua chen, dong ruổi theo vật chất ngày này qua tháng nọ không biết bao nhiêu cho vừa. Người thiếu thốn cực khổ tham muốn đã đành, thế nhưng người dư giả ăn không hết, của cải tràn đầy, tiền kho, bạc tỉ tỉ có thể nói chỉ lấy thước mà đo, thế mà vẫn còn tham muốn có nhiều hơn nữa.

Khi đã có tính tham muốn, thì không bao giờ thấy mình đầy đủ cả. Tổng thốmg Gandhi có câu: "Trong thế giới này có đủ các thứ để cho mọi người sử dụng, thế nhưng không đủ cho một người có lòng tham vô đáy.” Và Ngạn ngữ Việt Nam có câu: "Vực thẳm dễ lấp,nhưng túi tham khó đầy". Thật đúng như thế, "lòng tham đã không đáy", thì làm sao đầy được?

Ðể đối trị lòng tham, Phật khuyên chúng ta phải thực hành hạnh"Ít muốn và Biết đủ". Cổ nhân có câu: "Người biết đủ, dù nằm trên đất cát vẫn an lạc, trái lại, người không biết đủ, dù ở cung trời đâu xuất đà cũng không vừa ý".
Vậy muốn được sung sướng an vui, chúng ta cần phải thực hiện đức tính Ít muốnBiết đủ.

Thiểu dục(alobha, disinterestedness) có nghĩa là ít muốn; Tri túc(santutthi, contentment) có nghĩa là biết đủ. Ít muốn là đối với cái chưa có, mà vì nhu cầu, mong cho có. Như muốn có cái nhà ở vừa sạch, vừa che kín nắng mưa và trú thân qua ngày tháng là được rồi, chứ không cần phải lầu sang gác tía như những người khác. Nếu biết như vậy thì nỗi khổ của chúng ta càng ngày càng giảm thiểu. Hiện nay, đang vào thế kỷ thứ hai mươi mốt, phương tiện giao thông vận chuyển càng ngày càng tân tiến, chúng ta không còn đi bộ như ngày xưa, vậy muốn đi cho nhanh, công việc khỏi phải trễ nãi, chúng ta cần có một phương tiện để giải quyết công việc cho nhanh và cũng đỡ mỏi chân, tổn sức và đỡ tốn thời gian thì chúng ta chỉ sắm một chiếc xe đơn giản và bình thường là được, chứ không nên mua một chiếc xe hơi lộng lẫy, mấy chục nghìn đô la, quá mức so với tài chánh của mình, rồi phải vay nợ nhà nước hay những nhà triệu phú tính nặng lãi, đến kỳ trả nợ thì không có tiền, khi đổ nợ cả gia đình phải chịu vô tù ra tội, người ta xỉ vả mắng nhiếc, nhiều điều khốn khổ xảy ra sau đó. Vậy, biết đủ, nó không chỉ giúp cho ta khỏi bị tai ương, rắc rối mà nó còn giúp chúng ta trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng đều an phận với chính chúng ta. Còn đối với vấn đề ăn, mặc, luôn luôn thấy mình có đủ đồ để dùng chứ không cần tham cầu nhiều hơn nữa, có như vậy thì chúng ta không còn khổ sở về tinh thần như những người không biết đủ.

2. Những gì người đời thường tham muốn và đắm say?

Ở đời người ta thường bị năm dục sau đây sai khiến và lắm lúc làm nô lệ cho chúng nó, năm thứ dục lạc là:
a)    Tham muốn tiền, vàng, bạc, ngọc ngà, châu báu,v.v…

b) Tham muốn sắc đẹp của người phụ nữ nếu là đàn ông, còn đàn bà thì ngược lại.

c) Tham muốn danh thơm, tiếng tốt, thích khen tặng, ghét chê trách, thích mình là người được mọi người biết đến, muốn hình ảnh của mình xuất hiện trên truyền hình, báo chí, v.v…).

d) Tham muốn luôn luôn muốn thưởng thức những thứ ngon vật lạ, những sản phẩm số một (super one) trong siêu thị, muôn đổi thức ăn ngon hằng ngày để cho vưà khẩu vị, v.v…).

e) Tham muốn thích ngủ nghỉ, ngủ ngon giấc, ngủ yên giấc không muốn ai quấy rầy đến giấc ngủ của mình, v.v..)

Đối với những người tham muốn tiền, thì tiền kho bạc tỉ tỉ, nhà cửa đồ sộ, nhà ngang dãy dọc, đất ruộng mênh mông cò bay thẳng cánh, cũng chưa thấy là vừa, mà cứ vẫn còn mong muốn làm cho có và giàu thêm nữa bằng mọi cách, thức khuya dậy sớm, buôn tảo bán tần, nhịn ăn bớt tiêu. Nói chung bằng mọi phương pháp để làm sao đó có dư thừa của cải vật chất là thỏa mãn.

Còn những người tham muốn sắc đẹp, thì suốt đời dong đuổi đi tìm hoa tươi, vật lạ và đồ mới ; thấy ai có nhan sắc là say đắm và bằng mọi cách chinh phục cho được trái tìm hồng của nàng, tìm cách nầy cách khác để gần gũi cho kỳ được, thậm chí để sờ được bàn tay non nẻo của cô ta trong một chốc lát, khi đó mới được thoả mãn với dục vọng của mình. Thế nhưng sau khi chinh phục được cô ta với một thời gian thì lại sanh tâm chán chường và cuối cùng ruồng bỏ cô ta, âm thầm ra đi theo tiếng gọi của một cô khác thậm chí không nói một câu giã từ với người yêu hay vợ cũ. Như thế anh ta luôn luôn bị dục lạc sai khiến, mất hết cả nhân cách phẩm hạnh, không còn lương tri. Cuối cùng mùi hương thối của dục vọng theo chiều gió bay xa từ phương này đến phương nọ, bạn bè sinh tâm nhàm chán khinh chê, đi đến đâu ai cũng không màng tiếp đón. Cuối cùng trở thành những kẻ lang lang không nơi nương tựa và sau đó sẽ có nhiều điều bất thiện nãy sinh từ trong tâm khảm của con người ấy.

Đối với những người tham danh, thì suốt đời dong ruổi theo chức tước, quyền uy, danh thơm, hay tiếng tốt. Họ luôn luôn muốn khuôn mặt của họ xuất hiện trên ti vi, truyền hình, báo chí hay các nơi công cộng. Thậm chí vì ham danh ma họ còn lòn cúi hết chỗ này đến chỗ khác, để mong được cái địa vị, chức tước, quyền danh bả lợi cao sang. Họ lao tâm, khổ trí, nhiều đêm thao thức để tìm phương này kế nọ với mục đích là tìm cái danh vọng. Ôi! Đáng thương thay cho những kẻ mãi đi tìm danh nhưng không biết danh đó là bề ngoài và không thật. "Tham danh đắm lợi làm gì, một mai nhắm mắt chẳng gì theo sau."

Người tham muốn ăn, thì suốt đời lân la bên cạnh những quán cao lương mỹ vị, quanh quẩn bên những tiệc bàn chè chén, với mục đích tìm khoái khẩu trong những thứ rượu ngon, vị lạ, ngày ngày họ cứ có xu hướng thay đổi thức ăn miễn sao cho vừa khẩu vị là xong, họ không suy nghĩ sâu sắc về cái nỗi thống khổ của những con vật xấu số đang rên xiết trong những lò mổ súc vật của bọn ba toa lúc đêm khuya. Họ mất đi nhân tính từ bi bác ái, họ chỉ mong sao có thức ăn khoái khẩu của họ là được, họ quên hẳn đi thế giới bên ngoài và chỉ mong sao có miếng ăn ngon lạ đáp ứng khẩu vị của họ trong hiện tại mà thôi. Chính vì vậy, thế giới của họ chỉ thu hẹp lại trong những quầy hàng ăn uống sang trọng xa hoa, bạn bè của họ chỉ là những người bạn rượu trong quán bar.

Còn những người nặng nề về ngủ nghỉ, thì luôn luôn say mê trên những chiếc giường không kể xấu xí hay là xa hoa miễn sao yên giấc ấm thân là xong; ăn xong lại nghỉ chuyện đi nằm chứ không tính toán làm ăn, thậm chí giặc đến bên hè nhà cũng không hay biết, bảo táp phong ba cũng quên, nước lụt vào nhà cũng chẳng hay, cứ nằm là ngủ, ngủ xong lại muốn ngủ nữa, ngủ ngày không đủ tranh thủ ngủ đêm, ngủ thêm giờ nghỉ, đến nỗi mất hẳn đi sự tự chủ của mình.

Nói tóm lại, khi đã rơi vào những thứ dục lạc trên, thì cuộc đời của những kẻ ham muốn kia chỉ còn thu hẹp lại trong sự ham muốn của mình, ngày đêm cứ bị năm dục ngự trị và chi phối, cứ làm tôi tớ cho nó cho đến khi nhắm mắt lìa trần. Mỗi khi những kẻ đó đã rơi vào trong con đường này thì họ chỉ biết sống cho chính mình chứ họ không hay biết thế giới bên ngoài hay tha nhân. Tất cả những ham muốn mà họ đã lâm vào nặng nề ấy cũng do ái dục thúc đẩy và ái dục đó chỉ dẫn bởi bàn tay vô minh. Vì vậy, muốn thoát khỏi vô minh thì họ phải học hỏi, hiểu biết và thật sự thực hành thì may ra mới cứu vãn và thoát khỏi được những phiền phức đó. Xét cho cùng, những sự tham muốn trên, sự tham muốn danh vọng nó nảy sinh là do kiêu căng ngã mạn, còn các thứ tham vọng khác, đều do năm dục là động lực chính cả (năm dục là: sắc dục, thanh dục, hương dục, vị dục, và xúc dục), và nó được dẫn dắt bởi thằng vô minh. Bây giờ chúng ta có thể đi vào chi tiết một chút về năm dục trên.

Sắc dục là gì?
Là nhãn căn đối với sắc trần, sanh tâm tham muốn. Trong thì là thân thể của người nam hay người nữ: mày tằm mắt phượng, môi đỏ má hồng, tóc đen óng ả, song mũi dọc dừa... Ngoài thì là vật dụng của thế gian: ngọc, ngà, châu, báu, vật quý đồ xưa, sắc màu lộng lẫy, nói tóm lại những món đồ trang sức khiến tăng thêm vẻ đẹp và hấp dẫn của con người... Những món ấy, đại đa số khi người ta vừa trông thấy thì liền sanh tâm tham đắm và ưa thích.

Thanh dục là gì?
Là tai nghe tiếng hay, sanh tâm say đắm; như tiếng ca, giọng hát của những người ca sĩ nỗi tiếng, khúc ca trữ tình của những cô gái miền bắc, âm điệu du dương của những nghệ sĩ miền nam , khiến cho con người sanh tâm tham đắm.

Hương dục là gì?
Là lỗ mũi khi đối với hương trần sanh tâm tham muốn; như mùi thơm của những khúc cá chiên vàng trong những nhà hàng ở đại lộ Hùng Vương, các loại dầu thơm (perfume) ngào ngạt, phấn sáp nồng nàn của những nhà trang điểm thời trang v.v... Những món hương trần ấy, khiến cho con người ngửi đến thì sanh tâm ưa thích đắm chìm, ngây ngất hồn mê và mơ tưởng vẫn vơ.

Vị dục là gì?
Là khi lưỡi đối với vị, sanh tâm tham đắm, như các vị ngọt bùi, chua chát, mặn lạt, đắng cay, béo bổ, giòn giòn, nói tóm lại là những đồ cao lương mỹ vị, và cũng chính vì nó cao lương mỹ vị, ngon ngọt mới có khả năng cuốn hút được sự khao khát của con người. Ngược lại, nếu nó đắng cay, chua chat thì chúng ta tìm mọi cách để tránh xa (escape) nó. Cho nên nó không dễ gì cuốn hút chúng ta khi vị của nó không có giá trị thực sự đối với người dùng.

Vẫn biết loài người thì cần phải có thức ăn để nuôi mạng sống và tạo năng lượng để làm việc. Cổ nhân có câu: tất cả chúng sanh sống còn đều nhờ vào vật thực. Thức ăn là rất cần thiết để nuôi mạng sống của con người, thế nhưng không phải vì mục đích thiết thực đó mà chúng ta lợi dụng để rồi tìm kiếm những thứ cao lương mỹ vị để đáp ứng nhu cầu dục lạc của mình. Nếu với ý niệm đó thì hoàn toàn sai lầm, còn ngược lại thì rất là bổ ích, có nghĩa là khi chúng ta thưởng thức bất cứ món gì thì chúng ta chỉ xem nó như một liều thuốc để trị căn bịnh đói mà thôi. Có như thế thì chúng ta không bị dục lạc chinh phục và chúng ta sẽ thoát khỏi những sự nô lệ hay rang buộc của nó.

Xúc dục là gì?
Là thân thể khi tiếp xúc với xúc trần, sanh tâm tham muốn. Ví dụ như khi mình mặc một bộ áo quần luạ thì cảm thấy mát mẻ, nhẹ nhàng, khi nằm trên chiếc nệm dày thì có cảm giác êm lưng. Ngược lại khi mặc bộ áo quần bằng vải thô sơ thì mình có cảm giác nham nhám; nói chung trong bất cứ mọi trường hợp hễ mà ta tiếp xúc với những vật láng hay thô nó đều cho ta những cảm giác phân biệt khác nhau giữa chúng nó v.v... đối với tâm chúng sanh những vật gì mềm mại, láng lẫy thì sanh tâm ưa thích và bám víu, dính mắc vào nó, còn những vật gì cứng nhám thì sanh lòng ghét bỏ và muốn tránh xa nó càng sớm càng tốt v.v...

3. Sự tai hại không nhỏ đối với lòng tham lam quá độ:
Những người có sự tham muốn quá độ thì trong lòng lúc nào cũng xao xuyến, bâng khuâng, không làm chủ được mình, và có thể nói rằng lắm khi trở thành kẻ nô lệ đê tiện cho những sự thèm muốn, khát khao của mình mà thôi. Một khi đã bị lòng tham dục ngự trị, điều khiển và sai khiến, thì con người ấy sẽ gây ra không biết bao nhiêu tội lỗi, dám làm những chuyện hung ác, tàn nhẫn mà chẳng dung tay, chỉ làm sao để đáp ứng dục vọng của mình. Lại chính vì lòng tham muốn vô biên cương, không bờ bến, mà mình không tỉnh giác, nên đến khi lòng tham muốn mà không được đáp ứng, thì đổ lỗi cho người, và cũng vì đó mà sinh ra cạnh tranh, ẩu đả, xung đột lẫn nhau làm cho nhân loại phải ảnh hưởng và gánh chịu lắm điều tai ương đau khổ. Chính vì lòng tham muốn vô độ làm cho con người mù mắt, điếc tai trước những sự phải lẽ hay là trái lý để rồi thúc đẩy con người vào con đường tội lỗi. Ví dụ như một kẻ không có năng lực, uy quyền, đạo đức thấp kém mà muốn được giàu có, quyền cao, tước lớn, rồi thì dùng những mưu mô gian xảo, dối trá, đen tối, dã man với mục đích để đạt ý muốn của mình. Hoặc giả, cũng vì muốn được như ý bà vợ yêu quý của mình, mà có lắm ông chồng bị bắt buộc làm những việc trái với lương tâm, bất đạo đức cho đến nỗi tan thân mất mạng.

Tóm lại, năm dục là những nhân tố làm hại cho loài người không bút mực nào có thể kể xiết: Vì năm dục cho nên sanh ra lo buồn, tan thương, giận dữ, vì năm dục mà sanh ra dối trá, gian tham không một chút tàm quý, vì năm dục mà sanh ra cạnh tranh xâu xé, giết hại lẫn nhau, vì năm dục mà vợ phải xa chồng, con phải xa cha mẹ, anh đành lìa em, vì năm dục mà nước bại nhà tan, vì năm dục mà nhân loại đưa nhau vào rừng tên mũi đạn v.v..

Trong hiện tại nếu con người có lòng tham muốn vô độ, thì không chỉ làm tổn hại cho chính mình mà còn ảnh hưởng không tốt cho tha nhân. Còn về mặc tương lai, chúng lại còn đưa con người vào chốn tam đồ ác đạo không một lối thoát, nhất là tái sinh vào cảnh giới ngạ quỷ, để phải chịu những nỗi thống khổ triền miên bất tận, thiếu thốn cả hai phương diện vật chất lẫn tinh thần.
Trên đây là kết quả thảm khốc cùng cực của của những ai có lòng tham lam vô độ, không biết Ít muốn và Biết đủ.

4. Liều thuốc và phương thức để đối trị lòng tham muốn quá độ, đó là: Ít muốn và Biết đủ:
Như ông cha của chúng ta đã nói, túi tham đã không đáy, thì càng tham lại thấy càng thiếu, khi đã giàu rồi lại muốn giàu thêm. Như vậy cứ chạy theo khát ái của minh, càng khao khát thì càng khổ đau. Phật dạy: "Càng ham nhiều thì càng khổ nhiều". Chúng ta đừng lầm tưởng rằng: một khi lòng tham muốn được thỏa mãn, là khát ái sẽ chấm dứt. Hể còn củi thì lửa vẫn còn bốc cháy. Tham muốn được tọai nguyện thì tham muốn lại càng lớn lên. Ca dao có câu: "Ðược voi đòi tiên" là thế. Nếu những ai mà lửa tham vọng, mong cầu còn nung nấu trong lòng, thì luôn luôn thấy mình còn thiếu thốn. Không thấy thiếu món nầy, thì lại thấy thiếu món nọ, vả lại thế giới càng ngày càng văn minh, vật chất càng ngày càng phát triển cho nên có rất nhiều mặt hàng mới xuất hiện, như thế khiến tâm hồn của những con người tham muốn cứ khao khát mãi, không lúc nào được thỏa chí. Mà mỗi khi không thỏa chí thì nỗi khổ đau cứ còn kéo dài đăng đẳng.

Ðể đối trị lòng tham muốn tột bậc đó, không chỉ đức Phật mà ngay cả Nho giáo cũng đều dạy và cho chúng ta một phương thức, đó là: Biết đủ tức biết đủ. Làm ra bao nhiêu thì ta hưởng bấy nhiêu, và luôn luôn nghĩ rằng mình không còn thiếu gì nữa, đừng nhìn lên những kẻ giàu có sang trọng hơn mình mà nên nhìn xuống những người nghèo khó hơn mình để mà sống, có như thế thì mình mới cảm thấy thỏa mãn và biết đủ.

Trong kinh lời Giáo Huấn, Phật dạy: "Nầy chư Tỳ kheo! Nếu các ông muốn thoát khỏi sự khổ não, thì thường xuyên quán chiếu hai chữ": Biết đủ. Hể biết đủ thì sống ở hoàn cảnh cảnh nào cũng an vui, tự tại. Còn người không biết đủ, tuy giàu mà nghèo; người biết đủ tuy nghèo mà giàu. Trong thế gian người giàu có nhất là người biết đủ. Người không biết đủ thường bị năm thứ dục lạc lôi kéo, dẫn dắt, khiến người biết đủ thương hại và khóc thầm.

Cồ nhân dạy rằng: "Một người trong tay thâu tóm tất cả của cải trong thế gian, với người nghèo mà không tham muốn, hai người này đều giàu như nhau." Chúng ta hãy nhớ lấy, học hỏi và chiêm nghiệm những phương châm đầy ý nghĩa trên để làm chủ cuộc đời của chúng ta. Giàu nghèo sang hèn chỉ là mông mênh giã tạm (anicca) và khổ đau (dukkha). Nếu ta kiềm chế được dục vọng, tham muốn là ta thuộc vào hạng những người giàu có và sang trọng nhất; nếu ta không kiềm chế được dục vọng tham muốn là ta thuộc vào hạng người nghèo nàn và bần cùng số một.

5. Sự lợi ích lớn lao của công hạnh thực hành hạnh Ít muốn và Biết đủ:
Lòng tham muốn, khát khao làm cho ta khổ đau bao nhiêu, thì Ít muốnBiết đủ lại làm cho ta sung sướng, hạnh phúc và hân hoan bấy nhiêu. Đây là lẽ tất nhiên. Trong Phật giáo cái gì cũng có nhân và quả của nó cả. Nhờ "ít tham dục", nên con ma dục vọng không làm sao ngự trị, xui khiến, và thúc đẩy được mình; nhờ "biết đủ”, nên con quỷ tham lam chẳng có quyền hành sai sử mình đi tìm kiếm những thú vui xa xỉ. Một khi con người không còn làm nô lệ cho vật chất thấp kém, đê hèn, thì lòng người bắt đầu tự do giải thoát ra khỏi những tiếng gọi của dục vọng. Con người lúc ấy mới xứng đáng là con người thật sự, Mới có đủ nhân cách và không hổ thẹn với địa vị làm anh cả muôn loài, chị đầu của vạn vật. Chỉ khi ấy con người mới có thể tự cho là mình có hạnh phúc và an lạc thật sự; mặc dầu thường ngày vẫn ăn cơm hẩm canh rau đơn sơ đạm bạc, quanh năm chỉ mặc quần sợi thô, áo vải, cũng vẫn thấy trong lòng thư thái, an vui, sung sướng và hạnh phúc. Có thể nói rằng từ xưa đến nay, không có một vị giáo chủ nào, hiền triết nào trong thế giới này xứng đáng với danh nghĩa ấy mà lại không khinh thường và xem nhẹ của cải vật chất.

Vả lại, cũng nhờ Ít muốnBiết đủ mà gia đình, xã hội được trên ấm dưới êm, an vui, hòa bình, không ẩu đả, không còn ai giành giật của cải, danh vọng, miếng ăn ngon, vật lạ của ai nữa. Do vậy lợi ích của Ít muốnBiết đủ thật không sao kể xiết được nếu tất cả những người trong thế giới đều áp dụng châm ngôn ấy.

6. Trả lời một vài thắc mắc về Ít muốn và Biết đủ:
Có một Phật tử đặt vấn đề về Ít muốnBiết đủ, câu hỏi như sau: "Con người ai cũng muốn tiến bộ, thì cần phải nỗ lực phấn đấu, cạnh tranh trong tất cả mọi trường hợp, mọi tình huống và mọi lãnh vực. Trong khi đó đạo Phật lại dạy phải Ít muốnBiết đủ. Như thế là chủ trương làm cho nhân loại thoái hóa hay chăng?"

Xin đáp:
Thưa không! Ðạo Phật dạy Ít muốn Biết đủ cốt yếu để ngăn ngừa và chặn đứng con đường trụy lạc và đồi bại. Để ngăn ngừa và chận đứng lòng tham lam độc ác không bờ bến, vô biên cương, không đáy của chúng sanh, đang sống trong cõi đời đầy dẫy vật thực và dục lạc, chứ đạo Phật không có chủ trương ngăn chận sự phát triển và tiến hoá của con người trên con đường ích cho người, lợi cho vật, ích cho nước, và lợi cho dân. Trong khi nhận thấy thảm họa lớn lao của bịnh khát ái, tham lam, nên đức Phật với tấm lòng từ bi quãng đại cho nên Ngài đưa ra phương thuốc trị bệnh tinh thần vô cùng có hiệu quả, đó là Ít muốnBiết đủ để điều trị căn bệnh nan y trong tâm khảm của con người cho tận gốc. Phương thuốc nầy sẽ có công năng làm yếu dần tâm tham lam và lòng khát ái.có như thế các mối dục vọng, tham lam, tội ác tàn nhẫn, vô lương tri dần dần tiêu diệt ngày qua ngày, và cuối cùng chỉ còn lại tấm lòng từ bi quảng đại trong tâm khảm của con người mà thôi. Mỗi khi con người hết chạy theo dục vọng, hết đuổi bắt những hạnh phúc vật chất tạm bợ, mông mênh, vô thường, không thật có, thì lúc ấy chính bản thân của họ đã giảm thiểu và hết đau khổ bởi vì không còn lao tâm khổ trí theo sự chỉ dẫn của lòng khát ái, tham lam. Như vậy, họ không chỉ tạo ra hạnh phúc chân thật cho chính họ mà họ còn mang lại sự hạnh phúc lớn lao cho tha nhân nữa.

Như thế, công hạnh Ít muốnBiết đủ có nghĩa là bắt đầu giảm bớt tốc độ và năng lực của lòng dục vọng, tham lam, kế đó chặn đứng nó lại, cuối cùng buộc nó xoay chiều, đổi hướng, tinh tiến thực hành mãi mãi trên con đường chí thiện. Như vậy hạnh Ít muốnBiết đủ hoàn toàn không có khuynh hướng đưa con người vào con đường thối hóa, thụt lùi đối với thế giới hiện đại hôm nay nhưng ngược lại nó còn đóng góp một phần vô cùng quan trọng và tốt đẹp để giúp cho sự tiến hóa của loài người nói riêng và thế giới nói chung.

Hơn nữa, hiện nay nhân loại đang chứng kiến một sự mất quân bình trầm trọng giữa sự tiến hóa nhanh chóng về vật chất và sự chậm tiến của tinh thần hay tâm linh. Thật sự tinh thần vô cùng quan trọng. Vì vậy, sự mất tinh thần ấy có thể dẫn dắt nhân loại đến vực thẳm của diệt vong. Cho nên, chúng ta cần phải thận trọng và lưu tâm trong vấn đề quân bình sự tiến hóa vật chất và tinh thần. Muốn thực hiện điều đó, chẳng có phương pháp nào hay hơn là tuân thủ và thực hành công hạnh Ít muốnBiết đủ. Nếu con người luôn luôn biết xem thường và coi nhẹ vật chất một ít, thì may chăng mới tiến hóa và phát triển về tinh thần.

Sở dĩ ngày nay trên thế giới, đứng về phương diện vật chất, khoa học kỹ thuật, phương tiện truyền thông đại chúng, con người có thể nói tiến triển và nắm bắt rất nhanh đến mức không tưởng tượng nếu chúng ta quay nhìn lại cách đây năm mươi năm về trước. Tại sao vậy? Bởi vì con người chú trọng, quan tâm về điều đó quá nhiều. Thế nhưng về phương diện tinh thần, đạo đức, nhân tâm, lương tri, nhân phẩm, tư cách, từ bi, bác ái v.v., thì con người có tiến triển nhưng vô cùng chậm chạp, có thể nói là hơi bị trì chậm chạp. Tại sao vậy? Điều này cũng dễ hiểu thôi, bởi vì chẳng mấy ai quan tâm, lưu ý và xem trọng đến nó, mà chỉ chạy theo sự chỉ nhận tham muốn, dục vọng của mình đối với năm dục của trần thế. Mỗi khi vật chất tiến triển quá nhanh, thì tinh thần và tâm linh của con người phải lùi bước, vật chất càng nhiều thì lòng tham của con người càng lớn, tham đến nỗi không biết đến lúc nào cho vừa. Như quý vị đã thấy chiến tranh ngày nay tạo ra và gieo rắc khắp nơi trên thế giới, chẳng hạn như sự xung đột giữa Iraq và Mỹ (America) đã kéo dài mấy năm nay, hoặc giả cách đây hơn một tháng có sự xung đột và tranh cãi nhẹ giữa Trung Quốc (China) và Nhật bản (Japan) cũng do lòng tham danh, muốn chinh phục đối phương hoặc muốn đối phương phải phục tùng cái ngã (atta, self) của mình. Cho nên lòng tham lam không đáy của con người là do thiếu sự "Bất biết đủ" vậy.

Cho nên đức Phật dạy phương pháp Ít muốnBiết đủ cho con người thực hành và nó được xem như là hai liều thuốc thần diệu cho căn bệnh tham dục trầm kha và trọng đại của thế giới ngày hôm nay, điều ấy không một ai có thể chối cãi được.

C. Kết luận:
Nói tóm lại những phương châm mà đức Phật đã giảng dạy, với mục đích hướng dẫn chung cho loài người chứ không chỉ đặc biệt dành riêng cho một ai cả. Vì vậy, kẻ ngoài đời hay người trong đạo hay là những người theo những tôn giáo khác hoặc bất cứ ai muốn đạt được hạnh phúc chân thật, thì có thể và nên hành trì hạnh Ít muốn Biết đủ. Thật sự, những người không có khuynh hướng đòi hỏi quá nhiều về vật chất, thì chẳng bao giờ họ dụng tâm so sánh với những tầng lớp giàu có; do đó, họ không bao giờ thấy mình thiếu thốn về vật chất, và cũng chính vì lý do đó cho nên họ ít khổ hơn so với những người mà hay nặng nề về tham dục. Mặc khác, họ thường xuyên hướng dẫn, kiềm chế và giáo dục đôi mắt của họ nhìn xuống đối với những người nghèo nàn, cho nên họ thấy mình là thuộc trong những người khá giả, đầy đủ hơn, nên dễ dàng toại ý và mãn nguyện với những gì chính họ đang có.

Vậy, đức Phật dạy cho chúng ta phương pháp Ít muốnBiết đủ thật là tuyệt hảo, điều mà Ngài đã từng thực nghiệm và thực chứng qua nhiều kiếp trong quá khứ của Ngài. Vì thế, nếu mỗi cá nhân, mỗi thành viên của thế giới nếu muốn có hạnh phúc thật sự thì phải sớm phát nguyện và thi hành hạnh Ít muốnBiết đủ càng sớm càng tốt hầu mong mang lại lợi cho chính mình và ích cho tha nhân.

Cầu mong thế giới sớm trở nên bình yên, an vui, hoà thuận, thanh bình. Và xin cầu nguyện cho tất cả chúng sanh trong cõi Ta bà này chóng thoát khỏi sinh tử luân hồi và sớm Giác Ngộ Niết-Bàn.
Sabbadānam dhammadānam jināti
sabbarasam dhammaraso jināti
sabbaratim dhammarati jināti
tanhakkhayo sabbadukkham jināti.
The gift of the Dhamma excels all gifts;
The taste of the Dhamma excels all tastes;
Delight in the Dhamma excels all delights.
The eradication of craving
(i.e., attainment of arahatship)
overcomes all ills,
Pháp thí, thắng mọi thí!
Pháp vị, thắng mọi vị!
Pháp hỷ, thắng mọi hỷ!
Ái diệt, thắng mọi khổ!
(Dhammapada, verse 354)

Tỳ Khưu Giác Hạnh (Hồ Quang Khánh)


-ooOoo-