Thursday, August 4, 2016

Người xuất gia mong ước những gì,

 và làm sao thành tựu được mong ước của mình? Trong bài kinh Ước nguyện (Àkankheyyasutta) thuộc tuyển tập Trung Bộ, Đức Phật nêu ra mười hai mong ước “chính đáng” của người xuất gia nhằm khuyến khích các học trò mình nỗ lực tu tập đạo lý giác ngộ. Có mong ước chính đáng tức sẽ có nỗ lực chính đáng và kết quả chính đáng. Mười hai mong ước gồm:

1. Mong được các đồng phạm hạnh thương mến, yêu quý và tôn trọng.
2. Mong nhận được tứ sự cúng dường: y phục, món ăn khất thực, sàng tọa và dược phẩm trị bệnh.
3. Mong những vị hiến cúng tứ sự cúng dường được quả báo, lợi ích lớn.
4. Mong bà con huyết thống khi mệnh chung nghĩ tưởng đến mình với tâm hoan hỷ nhờ vậy được quả báo, lợi ích lớn.
5. Mong nhiếp phục lạc và bất lạc.
6. Mong nhiếp phục khiếp đảm và sợ hải.
7. Mong chứng được bốn Thiền, thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú.
8. Mong chứng được các cảnh giới giải thoát tịch tĩnh, siêu thoát sắc giới, thuộc vô sắc giới.
9. Mong chứng quả Dự lưu.

10. Mong chứng quả Nhất lai.
11. Mong chứng quả Bất lai.
12. Mong thành tựu lục thông (thần túc thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, túc mạng minh, thiên nhãn minh, lậu tận minh), hướng đến diệt trừ lậu hoặc, chấm dứt khổ đau.
Trên đây là mười hai mong ước “chính đáng” của người xuất gia. Đáng chú ý là bài kinh đề cập các ước nguyện của người xuất gia và dùng các mệnh đề giả định để khẳng định một luận đề: Có làm thì có kết quả.
Chẳng hạn, luận đề thứ nhất nêu như sau:

“Này các Tỷ- kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Mong rằng ta được các đồng phạm hạnh thương mến, yêu quý, cung kính và tôn trọng!”, Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật, kiên trì, nội tâm tịch tĩnh, không gián đoạn Thiền định, thành tựu quán hạnh, thích sống tại các trú xứ không tịnh”. Như vậy, vấn đề không phải nằm ở chỗ mong ước mà chính là cách thức làm thế nào để thực hiện mong ước. Người xuất gia có thể nuôi dưỡng các ước mong chính đáng của mình nhưng cần phải biết cách biến mong ước thành hiện thực. Nói khác đi, Đức Phật khuyên người xuất gia cần phải nuôi dưỡng các tâm lý ước mong chính đáng để thúc đẩy . chí tự độ và độ tha, nhưng trên hết cần phải hiểu rằng sự chuyên tâm hành trì giáo lý giới- định- tuệ chính là cách duy nhất để người xuất gia hoàn thành các ước mong chính đáng của mình. Sau đây là toàn văn lời Phật dạy1: “Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Mong rằng ta được các đồng phạm hạnh thương mến, yêu quý, cung kính và tôn trọng!”, Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật, kiên tr., nội tâm tịch tĩnh, không gián đoạn Thiền định, thành tựu quán hạnh, thích sống tại các trú xứ không tịnh.

Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Mong rằng ta được các vật dụng như y phục, các món ăn khất thực, sàng tọa và các dược phẩm trị bệnh!”, Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật… trú xứ không tịnh. Này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo có ước nguyện: “Mong rằng ta nay hưởng thọ các vật dụng như y phục, các món ăn khất thực, sàng tọa và các dược phẩm trị bệnh! Mong rằng hành động của những vị tạo ra các vật dụng ấy được quả báo lớn, được lợi ích lớn!”, Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật… trú xứ không tịnh.
Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Mong rằng những bà con huyết thống với ta, khi họ chết và mệnh chung, nghĩ đến ta với tâm hoan hỷ và nhờ vậy được quả báo lớn, lợi ích lớn!”, Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật… trú xứ không tịnh.

Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Mong rằng ta nhiếp phục lạc và bất lạc, chớ không phải bất lạc nhiếp phục ta. Mong rằng ta sống, luôn luôn nhiếp phục bất lạc được khởi lên!”, Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật… trú xứ không tịnh. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Mong rằng ta nhiếp phục khiếp đảm và sợ hãi, chớ không phải khiếp đảm và sợ hãi nhiếp phục ta! Mong rằng ta sống, luôn luôn nhiếp phục khiếp đảm và sợ hãi được khởi lên!”, Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật… trú xứ không tịnh.

Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Mong rằng, tùy theo . muốn, không có khó khăn, không có mệt nhọc, không có phí sức, ta chứng được bốn Thiền, thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú!”, Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật… trú xứ không tịnh. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Có những giải thoát tịch tĩnh, siêu thoát Sắc giới, thuộc Vô sắc giới. Mong rằng ta có thể cảm xúc với thân và sống an trú trong cảnh giới ấy!”, Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật… trú xứ không tịnh.

Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Mong rằng ta trừ diệt ba kiết sử, chứng quả Dự lưu, không c.n bị đọa lạc, chắc chắn hướng đến Chánh giác!”, Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật… trú xứ không tịnh.

Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Mong rằng trừ diệt ba kiết sử, làm cho muội lược tham, sân, si, ta chứng được Nhứt lai, chỉ phải trở lại đời một lần nữa để đoạn tận khổ đau!”, Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật… trú xứ không tịnh. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Mong rằng, trừ diệt năm hạ phần kiết sử, ta được hóa sanh, chứng được Niết-bàn ngay tại cảnh giới ấy, không còn trở lui thế giới này nữa!”, Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật… trú xứ không tịnh.
Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Mong rằng ta chứng được các loại thần thông! Một thân ta hiện ra nhiều thân, nhiều thân ta hiện ra một thân; ta hiện hình, biến hình đi ngang qua vách, qua thành, qua núi như đi ngang hư không, ta độn thổ trồi lên ngang qua đất liền như ở trong nước; ta đi trên nước không chạm như trên đất liền; ta ngồi kiết già đi trên hư không như con chim; với bàn tay, ta chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy; ta có thể, thân ta có thần thông bay cho đến Phạm Thiên!”, Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật… trú xứ không tịnh.

Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Mong rằng, với thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân, ta có thể nghe hai loại tiếng, chư Thiên và loài Người, ở xa hay ở gần!”, Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật… trú xứ không tịnh.

Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Mong rằng với tâm của ta, ta biết được tâm của các chúng sanh và loài Người. Tâm có tham, ta biết tâm có tham. Tâm không tham, ta biết tâm không tham. Tâm có sân, ta biết tâm có sân. Tâm không sân, ta biết tâm không sân. Tâm có si, ta biết tâm có si. Tâm không si, ta biết tâm không si. Tâm chuyên chú, ta biết tâm chuyên chú. Tâm tán loạn, ta biết tâm tán loạn. Tâm đại hành, ta biết tâm đại hành. Tâm không đại hành, ta biết tâm không đại hành. Tâm chưa vô thượng, ta biết tâm chưa vô thượng. Tâm vô thượng, ta biết tâm vô thượng. Tâm Thiền định, ta biết tâm Thiền định. Tâm không Thiền định, ta biết tâm không Thiền định. Tâm giải thoát, ta biết tâm giải thoát. Tâm không giải thoát, ta biết tâm không giải thoát!”, Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật… các trú xứ không tịnh.

Này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo có ước nguyện:“Mong rằng ta nhớ đến các đời sống của quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, một trăm đời một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp, ta nhớ rằng: “ Tại chỗ kia ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, thọ mạng đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh chỗ nọ Tại chỗ ấy ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế  này, thọ khổ lạc như thế này, thọ mạng đến mức như thế này . Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây !”. Tỳ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật …trú xứ không tịnh.

Này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo có ước nguyện: “ Mong rằng với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, ta thấy được sự sống và sự chết của chúng sanh. Ta biết rõ  rằng, chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kè bất hạnh đều do hạnh nghiệp của chúng . Các Tôn giả chúng sanh nào làm những ác hạnh về thân, về lời và về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến, những người này sau khi thân hoại  mệnh chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ địa ngục. Còn các Tôn giả, chúng sanh nào làm những thiện hạnh về thân, về lời và về ý, không phỉ bán các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiế , những người này sau khi thân hoại, mạng chung, được sanh lên các thiện chú, cõi Trời trên đời này. Như vậy ta với thiên nhãn thuần tịnh , siêu nhân , thấy sự sống chết của chúng sanh, biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ , kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh , đều do hạnh nghiệp của họ !”. Tỳ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật …trú xứ không tịnh.

Này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo có ước nguyện : “ Với sự diệt trừ các lậu hoặc, sau khi tự tri, tự chứng, ta chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại, tâm giải thoát , tuệ giải thoát không có lậu hoặc!” Tỳ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật, kiên trì, nội tâm tịch tĩnh, không gián đoạn Thiền định, thành tựu quán hạnh thích sống tại các trú xứ không tịnh”.

Vài nơi trong kinh tạng Pàli 2, Đức Phật dùng hình ảnh con gà mái kiên trì ấp trứng để lưu nhắc các Tỷ-kheo chuyên tâm trong vấn đề thực hành đạo lý giải thoát. Vì chỉ có thái độ kiên trì tu tập và thực hành đạo lý giải thoát mới giúp cho người xuất gia thành tựu sở nguyện tự độ và độ tha. Người xuất gia có thể khởi lên các mong ước chính đáng nhưng phải chuyên tâm tu tập giáo lý giới-định-tuệ thì mọi ước nguyện mới thành tựu. Tựa như con gà mái thường xuyên ấp nằm, ấp nóng, ấp dưỡng các quả trứng một cách kiên trì và đúng đắn thì đến lúc các con gà con sẽ tự phá vỡ vỏ trứng và thoát ra ngoài một cách an toàn, dù cho nó có khởi ý muốn, mong các chú gà con sẽ nở ra an toàn hay không.

Chú thích:
1. Kinh Ước nguyện, Trung Bộ.

2. Kinh Tâm hoang vu, Kinh Hữu học, Trung Bộ; Kinh Sự tu tập, Tăng Chi Bộ.

Tuesday, August 2, 2016

Thiền trong cuộc sống

 Thiền để được Định, Định sẽ tuệ giác được các hiện tượng tâm lý và hiện tượng giới. Nói cách khác, Thiền định là sự nhận diện, biết rõ các hiện tượng sự vật, biết rõ các hành nghiệp của bản thân trong đời sống thường ngày.
Cuộc đời tu hành của Thiện Tâm bao năm dài cũng chỉ giống một ngày, bửa củi, nhóm lửa, gánh nước và nấu cơm. Cứ như vậy lặng lẽ làm việc và học hành. Nhưng từ trước tới nay Sư Giới Tịnh không chỉ dạy gì cho Thiện Tâm, thậm chí đến một câu nữa lời cũng không có.
Một hôm Thiện Tâm đến thưa Sư:

"Thưa Sư Phụ! Từ khi đệ tử xuất gia theo Thầy tu học đến nay đã nhiều năm rồi, nhưng con chưa một lần được Thầy chỉ dạy. Xin Thầy từ bi truyền dạy cho đệ tử yếu chỉ tu hành!"

Sư Giới Tịnh nghe xong liền nói:

"Những lời con vừa nói, thật sự rất oan cho Thầy. Con nghĩ lại xem, từ khi con xuất gia theo Thầy, chẳng phải ngày nào Thầy cũng truyền trao tâm pháp tu hành cho con đó sao?"

Thiện Tâm ngạc nhiên hỏi:

"Đệ tử ngu muội, không biết hằng ngày Thầy đã truyền cho con pháp gì?"

Sư Giới Tịnh hiền từ mỉm cười bảo:

"Con bưng trà cho Thầy thì Thầy uống, con dâng cơm thì Thầy ăn, con chắp tay lễ Thầy thì Thầy gặt đầu đáp lễ. Không một ngày chùng mõi, không phải tất cả đều chỉ bảo con sao?"

Thiện Tâm nghe những lời Thầy nói tức thời lĩnh ngộ được dụng tâm của Thầy, bừng sáng được lý Thiền, thật ra Thiền không ngoài cuộc sống hằng ngày.

Thức luận:
Thiền trong cuộc sống
Thiền để được Định, Định sẽ tuệ giác được các hiện tượng tâm lý và hiện tượng giới. Nói cách khác, Thiền định là sự nhận diện, biết rõ các hiện tượng sự vật, biết rõ các hành nghiệp của bản thân trong đời sống thường ngày.

Thiền không thể tách lìa cuộc sống thường ngày của chúng ta, vì Thiền là sự ứng dụng, là thực nghiệm tỉnh giác, là an lạc của chính thân ta trong cuộc sống. Cũng giống như khi uống Cà Phê chúng ta cảm nhận được vị Cà Phê từ trong nước. Ly nước Cà Phê ấy đã cho chúng ta hương vị của Cà Phê. Như vậy, không thể tách rời nước và Cà Phê, mà phải dung hoà chúng lẫn nhau mới có được ly Cà Phê để uống và cảm nhận hương vị Cà Phê.

Cũng vậy, Thiền định có mặt ngay trong đời sống sinh hoạt hàng ngày. Chính cuộc sống là môi trường để chúng ta thực hành Thiền định, vì thế không phải chỉ có ở nơi sơn lâm cùng cốc, nơi cô liêu vắng vẻ mới chứng ngộ yếu chỉ của thiền, mà kể cả trong công việc hàng ngày: Bửa củi, nhóm lửa, gánh nước và nấu cơm.… với tâm tỉnh lặng, chánh niệm tỉnh giác thì vẫn có thể hội nhập được yếu chỉ của Thiền.

Với chánh niệm tỉnh giác thường xuyên có mặt thì tâm thức sẽ được định tỉnh. Tâm tĩnh lặng thì sẽ có một trạng thái tâm lý thoải mái và hoàn toàn tự tại trong cuộc sống.

Vấn đề tỉnh giác trong cuộc sống hàng ngày Đức Phật dạy:

"Ðệ tử Gotama,
Luôn luôn tự tỉnh giác,
Vô luận ngày hay đêm,
Ý vui niềm bất hại."
"Đệ tử Gotama
Luôn luôn tự tỉnh giác
Không luận ngày hay đêm
Ý vui tu thiền định"
(Pháp Cú 300, 301)

Trong cuộc sống mọi suy nghĩ, lời nói và việc làm của chúng ta, dù ngày hay đêm, khi nào, ở đâu và làm gì nếu có mặt của sự tỉnh giác luôn soi sáng thì sẽ sống an toàn, sống hạnh phúc, an lạc và giải thoát. Có thể xem đây là "Thần dược" để hoá giải các "Độc tố" trong cuộc sống; là pháp nhiệm mầu để hoá giải những bế tắc, khốn đốn, buồn đau của tâm thức; là công thức duy nhất để thành công trong cuộc sống.

Vì thế, chúng ta cần chất liệu Thiền định, tỉnh giác để được an toàn, hạnh phúc, thành công và an lạc giải thoát trong đời sống hàng ngày của chúng ta.

Friday, July 1, 2016

Chánh niệm và thiền minh sát tuệ


Chánh niệm là trọng tâm của thiền minh sát tuệ và là chìa khóa của toàn bộ tiến trình thiền tập. Nó vừa là mục đích của thiền minh sát tuệ vừa là phương tiện để đạt được mục đích ấy. Bạn đạt được chánh niệm nhờ liên tục tăng dần chánh niệm. Một từ Pali khác cũng được dùng như chánh niệm là appamada, mang nghĩa không lơ đễnh, không đãng trí, Người nào liên tục chú ý những gì đang thật sự xảy ra trong tâm mình thì người ấy sẽ đạt được trạng thái tỉnh giác cao tột.
Chữ Sati trong Pali còn có nghĩa rộng là sự nhớ. Nó không phải ký ức về các tư tưởng, hình ảnh trong quá khứ, mà nó là sự nhận biết rõ ràng, trực tiếp, không bằng lời về cái gì có, cái gì không có; cái gì đúng, cái gì không đúng; cái gì chúng ta đang làm và chúng ta sẽ tiến hành và chúng ta sẽ tiến hành như thế nào.
Chánh niệm nhắc hành giả nhớ chú ý vào đúng đối tượng, đúng thời điểm và nỗ lực đúng mức để thực hiện công việc. Khi nỗ lực đúng mức, hành giả sẽ duy trì được trạng thái an bình và tỉnh táo, lúc ấy các trạng thái của tâm mà ta gọi là triền cái, chướng ngại không thể sanh khởi, không có tham, sân, lười mỏi… Vậy mà hầu hết chúng ta không biết và cứ sai lầm hoài. Dù thật cố gắng, hành giả vẫn sơ suất chánh niệm, và thấy mình thỉnh thoảng lại sa vào trạng thái tâm nhiễm ô, vốn thường tình của con người.
Chánh niệm nhận ra sự thay đổi đó, và nhắc hành giả tinh tấn đúng mức để vượt qua. Sự sơ suất này cứ lặp đi lặp lại, tuy nhiên nếu hành giả thực hành chánh niệm thì tần số ấy sẽ giảm. Một khi sự chánh niệm đẩy các ô nhiễm của tâm sang một bên thì càng nhiều tâm thiện sẽ xuất hiện. Sân giận sẽ nhường chỗ cho lòng từ ái, ái nhiễm sẽ bị thay thế bởi ly tham. Chánh niệm giúp tuệ giác và tâm bi tăng trưởng. Không có chánh niệm, tuệ giác và tâm bi không thể phát triển tròn đầy.
Ẩn sâu trong tâm thức có một khuynh hướng chấp nhận những trải nghiệm vui đẹp và chối bỏ những chuyện đau buồn không hay. Khuynh hướng này tạo ra tham lam, ái nhiễm, sân hận, ghen tỵ… những trạng thái mà ta đang tập đoạn trừ. Chúng ta tránh những chướng ngại này không phải vì chúng ta xấu xa theo nghĩ đen của từ ấy, mà bởi vì chúng ép buộc, chế ngự tâm, dành trọn sự chú ý, bởi vì chúng cứ luôn quẩn quanh trong những vòng suy nghĩ nhỏ hẹp, chúng ngăn che không cho chúng ta thấy được thực tại đang sống động.
Khi chánh niệm có mặt thì những chướng ngại này không thể nào phát sinh. Chánh niệm là sự chú ý vào thực tại hiện tiền, và vì vậy nó đối nghịch với trạng thái mê mờ của tâm do chướng ngại tạo ra. Chỉ khi nào thiền sinh để chánh niệm vuột mất thì khi ấy khuynh hướng ẩn sâu trong tâm ấy mới tiếp tục – nắm bắt, chấp thủ và chối từ. Rồi sự chống đối trổi làm lu mờ tâm thức. Chúng ta không nhận thấy sự thay đổi này đang diễn ra do chúng ta cứ mãi miên man nghĩ đến trả thù, tham muốn và bất cứ điều gì có thể.
Một người chưa thiền tập nhất định sẽ tiếp tục tình trạng này không biết đến bao giờ, nhưng một người có thiền tập sẽ sớm nhận biết những gì đang diễn ra. Chính chánh niệm thấy được sự thay đổi này. Chính chánh niệm nhớ cách thực hành và tập trung chú ý làm cho trạng thái mù mờ rối rắm kia tan dần đi. Và cũng chính chánh niệm cố gắng duy trì chính nó sao cho sự chống đối kia không thể khởi sinh lại. Như vậy chánh niệm là phương thuốc đặc trị. Nó là cách thức vừa điều trị vừa phòng ngừa.
Khi được phát triển đầy đủ chánh niệm trở thành trạng thái hoàn toàn không dính mắc, không chấp thủ đối với bất cứ thứ gì trên thế gian. Nếu chúng ta giữ được trạng thái này thì chúng ta không cần một phương tiện gì hoặc một phương sách gì để mong tránh khỏi các chướng ngại , để đạt được giải thoát.
Chánh niệm không phải là sự tỉnh thức hời hợt. Nó thấy tận sâu thẳm bên trong các sự vật, vượt qua tầm khái niệm và ý tưởng. Việc quan sát thâm sâu này sẽ dẫn đến sự chắc thực hoàn toàn, một trạng thái không còn mơ hồ nữa. Chánh niệm chủ yếu thành tựu như một sự chú tâm liên tục, vững vàng, không bao giờ sút giảm và bỏ cuộc.
Sự tỉnh giác đơn thuần, không ô nhiễm, mang tính khám phá sự thật này không chỉ ngăn cản các lậu hoặc mà còn làm giảm tác dụng và đoạn trừ chúng. Chánh niệm vô hiệu quá các ô nhiễm trong tâm. Kết quả là tâm sẽ duy trì được trạng thái trong sạch, an lành, tuyệt đối không bị ảnh hưởng bởi những thăng trầm trong cuộc sống.


H.T Henepola Gunaratana – Liên thủy lược dịch