Thursday, August 27, 2015

Thiền là trở về với thực tại, là sống tỉnh thức, là thực nghiệm tự thân để trở về với cái bản tánh chân thật tự thuở giờ của mình.



  Thiền là biết vọng không theo, là đối cảnh không tâm, và hằng sống với cái chân thật.  Ngoài những thứ nầy ra, tất cả những thứ khác chen vào trong lúc ta hành thiền đều là ma.  Ma là cái gì?  Ma theo Bách Khoa tự điển có nghĩa là linh hồn của người chết đeo theo ám người đang sống; còn theo đạo Phật, ma là những chướng ngại mà các bậc tu hành thường hay gặp phải trên bước đường tiến tu. 
-
Có nhiều thứ ma: ma phiền não, ma nghiệp, ma uẩn, ma tâm, ma tử, ma thiên, ma thiện căn, ma tam muội, và ma thiện tri thức… Ma phiền não là những mối tham lam, hờn giận, ngu si che lấp chánh đạo.  Ma nghiệp là những ác nghiệp mà ta tạo ra bằng thân, khẩu, và ý.  Ma uẩn là sự dày vò của năm uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức.  Ma tâm là lòng tự cao ngã mạn.  Ma tử là cái chết đến không chừng không đổi làm cản trở bước tiến tu của ta.  Ma thiên là ma của cảnh trời, là những cảnh thần tiên để mê hoặc lòng người. 
-
Ma thiện căn là những chấp trước mê dại của con người, nói rằng mình có nhiều căn lành, phước báo, không chịu tăng trưởng tu hành, mà còn đi phá đầu nầy đầu nọ.  Ma tam muội là những kẻ tu hành ham chứng đắc nầy nọ mà không chịu chân chánh tu học và chẳng cầu tinh tấn.  Ma thiện tri thức là loại người ỷ tưởng mình đã học cao, hiểu rộng rồi chẳng chịu giúp đỡ người, mà còn quay ra tranh luận bậy bạ, khiến cho người phiền não trong công cuộc tu hành.

Còn ma thiền là những bóng uế của những con ma vừa kể, chúng đeo đuổi và ám ảnh người hành thiền.  Chúng làm cho người hành thiền có khi vui, có khi sợ, có khi khó chịu, đau đớn… Trong khi hành thiền mà tướng lạ xuất hiện, nghe thân nặng nề như có vật gì đè lên, hoặc giả nhẹ nhàng như muốn bay bổng, hoặc giả như có những con li ti bò ngứa trên mặt, hoặc thân người lay động, lắc lư, hoặc thấy như có hào quang trước mặt… Chúng đều là ma.  Biết là ma để đừng sợ hãi; tất cả đều hư ảo, không có thật.  Đừng quan tâm chi đến chúng mà hãy tiếp tục an trú trong chánh niệm.

Monday, August 24, 2015

Tâm là cái gì? Tâm ở đâu? Tâm hình dạng ra sao? Tâm ở trong ta hay ở ngoài ta…?



Nói tới tâm là nói tới cái gì vô cùng trừu tượng; tâm không hình, không dáng, không lớn, không nhỏ.  Tâm ở trong ta hay ở ngoài ta, chỉ có Phật mới hiểu nổi.  Tuy nhiên có một điều, hễ nghe nói tới tâm thì ai trong chúng ta cũng đều nghĩ ngay tới sự tạo tác của nó.  Tâm có thể đưa ta đến Cực Lạc, thì chính tâm cũng có thể tạo đau khổ và phiền não cho ta.  Tại sao lại như vậy?  Tại sao tâm từ cũng là ta, mà tâm tà cũng là ta?  Trong chúng ta ai cũng phải thừa nhận rằng đã rất nhiều lần, chính mình đã không làm chủ lấy thân mình; đã rất nhiều lần ta giao trứng cho ác vì ta chấp rằng cái tâm ấy chính là ta; hoặc giả ta quá tự tin nơi con người không thật của ta…
-
Trong thiền, không có cái gì thật, chỉ là mượn tạm, khi qua được bờ liền bỏ.  Thiền là trở về với chân tâm để nhận rõ ràng mặt mũi thật của ta từ vô thủy.  Thiền là dù biết rằng thân nầy, tâm nầy  không phải là của ta, ta vẫn phải mượn nó mà tu.  Một khi đã gọi là mượn rồi thì người tu thiền cũng quyết giữ cho đàng hoàng, chứ không hành hạ mà cũng không chìu chuộng nó một cách quá đáng.  Nếu ta biết dùng những của tạm bợ nầy mà tu thì chuyện được rốt ráo hẳn ắt là có thôi.  Hãy nhìn Đức Từ Phụ đấy thì rõ.  Ngài đã biết dùng cái thân tứ đại nầy mà hành trình về cõi vô sanh và Ngài đã giải thoát.
-
Như vậy nhiệm vụ chính của thiền là coi chừng, là canh giữ những món đồ mượn, coi chừng và canh giữ sao cho những món đồ nầy chỉ có lợi cho ta, chứ không đem lại bất cứ một sự di hại nào, dù nhỏ.  Ấy là sự canh giữ rốt ráo.  Nhiệm vụ chính của thiền là giữ cho tâm ta lúc nào cũng có chánh niệm, cũng tỉnh thức, và cũng trụ ngay trong cái hiện tại nầy.  Nếu thiền mà đạt được như vậy thì ta còn muốn gì hơn nữa?  Nếu thiền mà thanh lọc tâm được như vậy thì lúc đó ta sẽ đi con đường mà ta muốn đi. 
-
Nói cách khác, ta có được cái trí tuệ thật sự.  Tất cả những gì mà ta có được trên cõi đời nầy đều là tạm bợ, chúng đến rồi đi, đi rồi đến.  Chúng chưa bao giờ tạo ra chân hạnh phúc cho ta.  Chỉ có trí tuệ chân thật mới tồn tại mà thôi.  Chính cái trí tuệ nầy nó đã mở cái thấy sự thật của nó là để cho ta thấy tất cả những hiện tượng là vô thường, không có gì tồn tại.  Một đời sống con người rất ngắn ngủi so với đời sống của một hành tinh; và tương tự, đời sống của một hành tinh rất là ngắn ngủi so với đời sống của một vì sao, hoặc của một dãy ngân hà… Thấy rõ được như vậy để tự mình chọn lấy lối đi cho mình.  Thiên đàng, địa ngục, Niết Bàn, giải thoát…
-
Thật tình mà nói, ngay cả những thứ vừa nói trên cũng là không thật, không phải là cứu cánh của người tu thiền.  Người tu thiền chân chánh là người biết sống cho mình và cho người.  Muốn sống được cho mình và cho người không phải là chuyện dễ.  Ngoài chuyện tinh tấn hành thiền, người tu thiền còn phải giữ giới, ít nhất là phải trì cho được ngũ giới.  Chính đức Phật đã dạy rằng khi không có Ngài tồn tại thì chúng sanh đời sau nầy phải lấy giới luật làm thầy.  Như vậy đủ cho ta thấy giới luật nó quan trọng đến bực nào.  Giới còn là phương tiện giúp cho ta có đủ sức mạnh để tập trung vào thiền định. 
-
Chúng ta làm sao chế ngự được tham, sân, si, dâm dục, ngã mạn, cống cao… nếu chúng ta không giữ giới?  Một thí dụ rõ nét là nếu chúng ta nói không sát sanh thì phải giữ cho đúng từ đầu đến chân là không sát sanh.  Đành rằng khó, nhưng có người làm được, mình làm được.  Đừng đổ thừa tại tôi thiếu căn nên không ăn chay được.  Không có căn cơ chi cả, chỉ tự ta mà thôi.  Hoặc giả vì nghèo mà phải sanh tâm trộm cắp.  Trên đời nầy không thiếu chi người nghèo mà thanh bần lạc đạo.  Như vậy không có tại với bị chi cả.  Tất cả đều do cái tâm nầy mà ra; tâm từ thì về cõi trời, mà tâm tà thì đi về địa ngục, thế thôi.
-
Người tu thiền nên nhớ rằng tất cả những gì ta đang có, đang thấy, đang nghe, đang chạm, đang mơ tưởng… chỉ là của mượn.  Chính vì vậy mà ta không bận bịu, bám víu vào những của mượn ấy, mà chỉ nhờ chúng để qua bờ.  Qua bờ xong là một niệm cũng không còn.

Sunday, August 23, 2015

CHÁNH NIỆM VỀ CHÁNH KIẾN



  Để bạn biết làm thế nào thực hành bước thứ nhất – Chánh Kiến về Tứ Diệu Đế- thí dụ, một buổi sáng kia khi ngồi trên gối thiền bạn cảm thấy đau ở chân. Thay vì chỉ ghi nhận sự phát sinh và hoại diệt của cảm giác đó, thì bạn trong trường hợp này lại cảm thấy khổ vì cái đau, và sự khó chịu của bạn càng làm nó đau thêm. Nếu tâm chánh niệm của bạn đã thuần thục, thì vấn đề này đã không xảy ra, nhưng giờ bạn đã sa lầy. Bạn có thể làm được gì bây giờ?

Bạn có thể chế ngự được sự phiền não do cái đau mang đến bằng cách thực hành bát chánh đạo của Đức Phật. Đây là cơ hội để quán sát tứ diệu đế trong thực hành.

Mặc dầu tám bước (Bát Chánh Đạo) đã được mô tả theo một thứ tự đặc biệt, nhưng chúng ta không cần phải thực hành chúng theo thứ tự đó. Không đơn giản và rõ ràng như thế. Thí dụ như ta đang nấu ăn trong nhà bếp nơi tất cả các dụng cụ đều được treo theo kích cỡ và được xếp đặt gọn gàng theo một thứ tự lô gích nào đó, thì ta cũng không dùng các dụng cụ này theo thứ tự mà chúng đã được xếp đặt. Thay vào đó ta sẽ lấy bất cứ cái chảo hay cái nồi nào mà ta đang cần lúc đó. Cũng thế, khi áp dụng Bát Chánh Đạo vào cuộc sống hằng ngày đòi hỏi ta phải chọn lựa và sử dụng bất cứ bước nào mà ta cần.

Do đó, trước hết ta chánh niệm về cái đau và sự phản kháng của ta đối với nó. Như thế là ta đã sử dụng chánh niệm, là bước thứ bảy của Bát Chánh Đạo. Với chánh niệm, ta bắt đầu nhận thức rằng “Đây là khổ." Khi nhìn ra sự thật của khổ, là ta đã nhận ra diệu đế thứ nhất. Nó trở thành là một thực tại đối với ta và ta bắt đầu thực hành chánh kiến, là bước đầu tiên của Bát Chánh Đạo.

Với sự chú tâm chánh niệm, ta sẽ dễ dàng nhận thấy rằng càng phản kháng cái đau, thì ta càng cảm thấy tệ hại hơn. Vì thế ta cố gắng để chế ngự, buông xả sự phản kháng. Hành động đó liên quan đến chánh tinh tấn, là bước thứ sáu. Ta buông xả sự phản kháng bằng cách thư giãn và thiết lập một thái độ thân thiện hơn. Ta có thể, thí dụ, suy luận rằng cái đau trong chân cũng đáng được chấp nhận, thương yêu như bất cứ những cảm giác nào khác của thân. Bằng cách đó, ta tu tập một khía cạnh của chánh tư duy, là bước thứ hai.

Sau đó ta có thể quán sát rằng nỗi khổ phát sinh không chỉ vì sự phản kháng mà còn vì ta mong muốn được cảm thấy dễ chịu hơn. Thí dụ, ta có thể nghĩ, “Giá mà tôi có thể ngồi một cách yên tĩnh, không bị đau đớn!” Thấy được sự liên hệ giữa lòng ham muốn và sự khổ đau sẽ đưa chúng ta thẳng đến trí tuệ trong diệu đế thứ hai, sự thật rằng chính lòng tham ái đem lại khổ. Giờ thì chánh kiến của ta đã được phát triển sâu xa hơn.

Khi ngồi với ý thức về diệu đế thứ hai, ta trở nên rất rõ ràng về sự liên hệ giữa lòng tham ái và khổ, do đó chánh niệm cũng được phát triển sâu hơn. Vì thấy quá rõ lòng tham ái đưa đến khổ đau như thế nào, nên ta phát khởi quyết tâm phải làm điều gì đó đối với lòng tham ái. Phát khởi quyết tâm, là ta đã lại thực hành chánh tinh tấn, nhưng lần này, là để buông bỏ tâm tham ái, bám víu vào những cảm giác dễ chịu. Tư tưởng buông xả, còn được biết đến như là xả ly, là một khía cạnh khác của chánh tư duy.

Có thể lúc đầu chúng ta đã phản ứng lại cái đau với cảm giác thất vọng, bực tức. Nếu sự tự trách hay các ác ý khác nhắm đến bản thân đã phát sinh, thì giờ ta phải thực hành chánh tinh tấn để buông bỏ chúng. Làm được thế, là ta một lần nữa thực hành chánh tư duy. Hãy nhớ rằng nếu ta cố gắng quá sức, thì ta tạo ra nhiều đau đớn và căng thẳng hơn. Tuy nhiên, với chánh niệm, ta sẽ nhìn thấy được vấn đề đó. Rồi chánh tư duy một lần nữa lại trở nên hữu dụng, lần này là để giải nhiệt cho tâm với tư duy về tình thương yêu dành cho bản thân.

Những sự thành công như thế trong việc vun trồng chánh kiến, chánh tư duy, chánh tinh tấn, và chánh niệm sẽ giúp tâm lắng đọng. Tâm trở nên định tĩnh hơn; đây là một biểu hiện của bước thứ tám trên con đường đạo: Chánh Định. Khi đạt được định sâu lắng, thì sự đau đớn tinh thần cũng như thể xác sẽ qua đi. Khi sự đau đớn đã tan biến ta sẽ cảm thấy đầy an bình, tĩnh lặng và hạnh phúc. Các trạng thái này, ngược lại, sẽ đưa ta vào tầng định cao sâu hơn.

Định sâu lắng hơn sẽ giúp tâm chánh niệm được củng cố và ta tiếp tục quán sát các chứng nghiệm của mình. Ta thấy rằng cái đau biến mất vì ta buông xả lòng tham muốn đối với dục lạc. Sau đó chánh kiến sẽ tăng trưởng khi ý nghĩa và hiệu lực của diệu đế thứ ba trở nên rõ ràng: khi chấm dứt tham ái thì khổ được đoạn diệt.

Có thể nhận thấy rằng trong thí dụ vừa rồi chúng ta đã không nói đến khía cạnh “đạo đức” của Bát Chánh Đạo: đó là Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, và Chánh Mạng (bước thứ ba, tư, và năm). Nhưng chúng cũng có mặt, vì chúng đóng vai trò quan trọng trong một cuộc sống tốt đẹp. Sống thiếu đạo đức sẽ khiến tâm không an, khiến cho việc hành thiền trở nên khó khăn ngay cả trong những hoàn cảnh thuận tiện. Ta cần có một nền tảng đạo đức vững chãi trước khi có thể duy trì được định và giữ được quyết tâm mạnh mẽ khi đối diện với những đau đớn của thân tâm. Do đó khi đã thực hành không sai lệch các bước trên con đường đạo (Bát Chánh Đạo) của Đức Phật, ta sẽ tìm thấy trong đó phương cách để buông xả khổ đau. Khi làm được thế, ta sẽ chánh kiến được diệu đế cuối cùng trong Tứ Diệu Đế, sự thật rằng phương cách để chấm dứt khổ là đi theo con đường Bát Chánh Đạo. Đến đây chúng ta đã điểm qua tất cả bốn khía cạnh căn bản của Chánh Kiến.

Khi đã tự mình thấy được Tứ Diệu Đế diễn biến như thế nào trong trường hợp này, chúng ta cũng đoán được chúng sẽ vận hành ra sao trong cuộc đời nói chung. Do đó bánh xe trí tuệ sẽ được tiếp tục quay vòng.