Sunday, April 10, 2022

Công tử Maṭṭhakuṇḍalī



MAṬṬHAKUṆḌALĪ


Khi công tử Maṭṭhakuṇḍalī lên 16 tuổi thì bị bệnh vàng da. Người vợ đã hết lòng khuyên nhủ chồng tìm thầy hay thuốc tốt trị bệnh cho con. Tuy nhiên, vì sợ phải trả tiền công tiền thuốc nhiều, nên không mời lương y, mà ông ta tự mình tìm thuốc chữa trị cho con.

Khi ấy, ông ta mới biết là con trai Maṭṭhakuṇḍalī của mình sẽ không qua khỏi. Lo sợ mọi người đến thăm nhìn thấy tài sản của mình, nên ông ta đưa con ra ngoài hiên nhà nằm. Lúc này, tình thương yêu con mới dâng trào trong lồng ngực của phú hộ Adinnapubbaka. Tuy nhiên, ông cũng chẳng thể làm gì được nữa. Hối hận thì đã quá muộn rồi, chỉ còn sự khổ đau dằn vặt ông ta mà thôi.

Rạng sáng hôm sau, đức Phật sau khi xuất khỏi Đại bi định, Ngài quán xét chúng sinh có duyên lành giác ngộ (veneyyasattā), đã thấy công tử Maṭṭhakuṇḍalī hiện rõ trong lưới tế độ của Ngài. Thật ra, trong gia đình Maṭṭhakuṇḍalī chưa từng có phước thiện bố thí, cũng chưa từng có phước thiện giữ giới, lại cũng chưa từng có phước thiện hành thiền. Tuy vậy, Maṭṭhakuṇḍalī lại là người sắp chết, đang hấp hối. Khi sắp chết, đang hấp hối, cận tử nghiệp (āsannakamma) là rất quan trọng. Cận tử nghiệp là hành động, nghiệp được làm lúc sắp chết, lúc hấp hối. Người cha của Ngài đại trưởng lão Soṇa là một thợ săn, tuy cả cuộc đời tạo nhiều ác nghiệp, nhưng đến giây phút cuối đời, lúc hấp hối, theo chỉ dẫn của Ngài Soṇa, ông ta đã tạo được cận tử nghiệp thiện, nên được tái sinh vào cõi thiện. Hoàng hậu Mallikā, mặc dù là người tạo được phước thiện asadisa (cúng dường Phật và Thánh chúng không có ai sánh được), nhưng lúc sắp lâm chung, đã tạo cận tử nghiệp xấu, nên đã bị tái sinh vào cõi khổ. Công tử Maṭṭhakuṇḍalī, trong suốt cuộc đời của mình chưa từng bố thí, cũng chưa từng giữ giới và cũng chưa từng hành thiền. Vì vậy, trong (tâm) cậu ta đã chẳng có lấy một chút thiện nghiệp nào. Tuy nhiên, với tâm đại bi hợp trí tuệ của đức Phật, Ngài thấy được, do phát sinh tín tâm nơi Ân đức Phật, phát triển thiện phước niệm Ân đức Phật ấy, là cận tử nghiệp thiện, cậu ta sẽ được tái sinh về cõi thiện.

Sáng sớm hôm ấy, Đức Phật cùng chư Thánh chúng đệ tử đi vào kinh thành Sāvatthi để khất thực. Khi đi khất thực tuần tự qua từng nhà, Ngài và Thánh chúng đệ tử đến trước nhà phú hộ Adinnapubbaka. Công tử Maṭṭhakuṇḍalī, khi nhìn thấy đức Phật đã rất hoan hỷ, phát sinh đức tin trong sạch nơi Ngài. Tuy nhiên, đến tay chân còn không thể nhấc lên nỗi, cho nên ngoài phát sinh tín tâm hoan hỷ, cậu ta cũng chẳng thể làm được điều gì khác hơn nữa. Chỉ vậy thôi, nhưng là thiện nghiệp hành thiền cao thượng, nên có giá trị lớn lao, không gì sánh bằng đối với cậu ta. Chỉ với thiện nghiệp hành thiền có Ân đức Phật làm đối tượng như vậy thôi, nhưng khi chết đi lại được tái sinh vào tầng trời Tvāvatiṃsa (tầng trời Tam Thập Tam hay còn gọi là Đạo Lợi).

Công tử! Ngươi là chư Thiên, hay Vua trời, hay chỉ là con người bình thường?

Thưa phụ thân! Con chính là người con trai mà phụ thân đang than khóc đau buồn đó. Lúc sắp chết, con đã tạo được cận tử nghiệp thiện, cho nên bây giờ, con được tái sinh làm thiên nam ở tầng trời Tam Thập Tam.

Vị thiên nam đáp.

Nghe vậy, phú hộ Adinnapubbaka vẫn còn hồ nghi nên hỏi lại:

 

Công tử! Trong suốt cuộc đời của ta, trong nhà ta chưa từng làm việc bố thí (từ thiện), cũng chưa từng giữ giới, và cũng chưa từng hành thiền. Gia đình chúng ta là những người tránh xa sự bố thí, giữ giới và hành thiền. Như vậy, ngươi đã làm được phước thiện gì và làm như thế nào? Điều này đối với ta không thể nào nghĩ ra được.

Phụ thân! Gia đình của chúng ta như phụ thân đã nói, quả đúng là đã chưa từng bố thí, giữ giới và hành thiền. Tuy nhiên, giờ phút con sắp chết, phụ thân đã đưa con ra nằm trước hiên nhà. Sáng hôm ấy, đức Phật cùng Thánh chúng đi vào kinh thành Sāvatthi khất thực theo tuần tự từng nhà, đã đi ngang qua nhà của chúng ta. Mặc dù, đức Phật và Thánh chúng đứng khất thực trước nhà chúng ta như vậy, nhưng không một ai đi ra cúng dường dù chỉ một thìa cơm, cũng không cung kính hay nghe thuyết pháp. Tuy vậy, con lại có cơ hội được chiêm ngưỡng đức Phật với hào quang 6 màu tỏa sáng. Lúc này, vì đôi tay của con không còn cử động được nữa, nên cũng không thể làm sao để chắp tay lên vái lạy được, chỉ còn có thể kính ngưỡng trong tâm mà thôi. Sự kính ngưỡng ở trong tâm đó cũng chính là Buddhānussati: Niệm ân đức Phật của con. Trong tâm con nhớ niệm Ân Đức Phật như vậy cho đến lúc chết đi. Đó chính là phước thiện làm lúc sắp lâm chung mà con có được, nhờ chiêm ngưỡng đức Phật, phát sinh tín tâm hoan hỷ, niệm Ân đức Phật vậy. Thiên nam Maṭṭhakuṇḍalī đã thuật lại như vậy cho phú hộ Adinnapubbaka nghe.

Thưa Ngài Go-ta-ma, có một ai, không từng cúng dường đến Ngài, không từng giữ giới, không từng nghe pháp, hành thiền; mà chỉ với tín tâm kính ngưỡng nơi quý Ngài thôi, lại có thể tái sinh về thiên giới được hay không?

Đức Phật thấy biết trước được rằng, nhân câu hỏi của phú hộ Adinnapubbaka, nếu Ngài thuyết giảng, thì chính ông phú hộ và cả thiên nam Maṭṭhakuṇḍalī sẽ chứng đắc thành bậc Thánh Nhập Lưu. Thính chúng còn lại sẽ hưởng được pháp vị giải thoát. Cho nên, đức Phật liền dạy:

Này Bà-la-môn! Số người không từng bố thí, cúng dường; cũng không từng giữ giới, không từng nghe pháp và cũng không từng hành thiền, mà chỉ có phát sinh đức tin cung kính nơi Như Lai thôi, nhưng lại được tái sinh về cõi trời có hàng trăm, hàng ngàn, hàng vạn… nhiều không đếm xuể. Chính con trai ông, công tử Maṭṭhakuṇḍalī, chỉ có tín tâm cung kính nơi Như Lai thôi, cũng đã được tái sinh về tầng trời Tam Thập Tam. Điều này, chính vị thiên nam đã nói với ông tại nghĩa trang rồi không phải vậy hay sao?

Vị thiên nam thưa:

Kính bạch Đức Thế Tôn, bậc Ân Đức Cao Thượng! Con khi còn là người, có tên Maṭṭhakuṇḍalī, là con trai duy nhất của phú hộ Adinnapubbaka trong kinh thành Sāvatthi này. Khi con bị bệnh sắp chết, có duyên lành được chiêm ngưỡng Ngài, rồi phát sinh đức tin, đó chính là việc phước thiện duy nhất con làm được. Do nhờ cận tử nghiệp thiện ấy, mà con được hưởng thụ sự cao sang an lạc của cõi trời.

Thính chúng nghe pháp cùng nhìn thiên nam Maṭṭhakuṇḍalī rồi trầm trồ!

Này quý vị! Ân đức cao thượng của đức Phật quả là đáng ngạc nhiên! Tuy là người con trai của phú hộ Adinnapubbaka, người cả cuộc đời chưa từng một lần bố thí, cúng dường; không làm việc phước thiện gì khác, ngoài có tâm kính ngưỡng, phát sinh đức tin trong sạch nơi đức Phật lúc sắp chết, với chỉ bấy nhiêu thôi, đã tái sinh làm kiếp thiên nam tại tầng trời Tam Thập Tam, được hưởng thụ đầy đủ cao sang an lạc như thế này.

Khi ấy đức Phật liền thuyết bài kệ:

(Nghĩa bài kệ)

Trong các pháp thì tâm dẫn đầu. Tâm thống lĩnh. Tâm hoàn thành. Nếu khi nói hoặc làm với tâm thiện, thì do nói và làm với tâm thiện ấy, nên an lạc luôn luôn theo mình, ví như bóng theo hình vậy.

 

Trích từ Dhammapada Những Pháp Dẫn Đến Niết Bàn – Sư Hộ Giới (Rakkhitasīla Bhikkhu) dịch Việt theo Dhammapada nguyên tác tiếng Myanmar của tác giả U Shwe Aung


TRƯỞNG LÃO CAKKHUPĀLA

 


TRƯỞNG LÃO CAKKHUPĀLA

Trong các pháp thì tâm dẫn đầu. Tâm thống lĩnh. Tâm hoàn thành. Nếu khi nói hoặc làm với tâm bất thiện, thì do nói và làm với tâm bất thiện ấy, nên đau khổ luôn luôn theo mình, ví như bánh xe lăn theo dấu chân con bò kéo xe vậy.

Dịch nghĩa một cách khác:

Trong 4 nhóm danh pháp (nāmakkhandhā) (nhóm thọ, nhóm tưởng, nhóm hành, nhóm thức), thì nhóm thức (viññāṇakkhandhā) là chính, là dẫn đầu. Nhóm thức (tâm) là thống lĩnh. Thành tựu là do nhóm thức. Khi một người nào với tâm bất thiện rồi nói, hoặc với tâm bất thiện rồi làm; thì người nói hoặc làm với tâm bất thiện ấy, sẽ bị quả báo khổ đau đeo bám theo sau, giống như bánh xe luôn theo sau dấu chân con bò kéo xe vậy.

Những gì đang xảy ra với chúng ta hôm nay (kiếp này), là do từ những gì chúng ta đã suy nghĩ, đã thấy biết của ngày hôm qua (kiếp trước) mang lại. Những gì chúng ta đang suy nghĩ, đang thấy biết hôm nay (kiếp này), sẽ xây đắp lên cuộc đời của chúng ta ngày hôm sau (kiếp sau).

Suy nghĩ (saṅkappa=tư duy) và thấy biết (diṭṭhi=tri kiến), nếu suy nghĩ và thấy biết đúng đắn, chân chánh, thì được gọi là chánh tư duy (sammāsaṅkappa) và chánh kiến (sammādiṭṭhi), thuộc thành phần trong 8 chánh đạo. Còn nếu suy nghĩ và thấy biết sai trái, lệch lạc, thì được gọi là tà tư duy (micchāsaṅkappa) và tà kiến (micchādiṭṭhi) thuộc thành phần trong tà đạo. Vì vậy, tư duy và thấy biết là những yếu tố cấu tạo nên cả 2 con đường ngược và xuôi của cuộc đời. Tuy nhiên, tư duy và thấy biết chỉ là 2 thành phần (2 tâm sở) của tâm. Vì vậy, chúng không thể tự phát sinh lên được, phải có tâm làm cho khởi sinh, do tâm dẫn đầu. Phải có tâm làm thống lĩnh. Và được tác thành là do tâm.

Những gì đang diễn ra với chúng ta đó gọi là bhava: cuộc đời, kiếp sống. Trong bhava: cuộc đời ấy, có 3 thành phần kết hợp nên. Đó là, phần vipāka: quả (quả của nghiệp), phần kamma: nghiệp (nhân) (thiện nghiệp và ác nghiệp), và phần kilesa: phiền não (là những phiền não được dẫn dắt bởi vô minh và tham ái). Do có phiền não (những yếu tố chính khiến tâm tạo tác), nên tạo ra thiện nghiệp, ác nghiệp. Do tạo ra thiện nghiệp, ác nghiệp nên quả của thiện nghiệp, ác nghiệp ấy phát sinh lên. Ở đây, phiền não là nói đến cấp độ phiền não ngủ ngầm, tiềm ẩn (anusaya kilesa). Do đó, nó được gọi là phiền não luân (hồi) (kilesavaṭṭa: những sự thôi thúc tạo tác không ngừng nghỉ). Nghiệp cũng là nói đến cấp độ tạo tác trong từng sát-na (nānakkhaṇika kamma) của thiện nghiệp, ác nghiệp. Do đó, nó được gọi là nghiệp luân (hồi) (kammavaṭṭa: những sự tạo tác không ngừng nghỉ). Quả là nói đến những thành quả chín muồi, kết quả của thiện nghiệp và ác nghiệp đã tạo tác không ngừng nghĩ ấy. Do đó, nó được gọi là quả luân (hồi) (vipākavaṭṭa: những thành quả sinh khởi tiếp diễn không ngừng nghỉ).

Trong hành trình cuộc đời này, chúng ta phải bước đi trên con đường mà chính những tư duy và thấy biết của chúng ta đã làm, đã gầy dựng ra nó. Chánh đạo hay tà đạo, đường đúng hay đường sai không phải do một ai khác làm ra, mà chính những tu duy và thấy biết của chúng ta tạo ra chúng. Thật ra, lịch sử của đời người, là chúng ta đi lại trên hành trình do những tư duy và thấy biết của chính chúng ta tạo nên. Cho nên, chúng ta chỉ là đang đi lại theo “nhật ký hành trình của cuộc đời” mà thôi.

Trong các pháp thì tâm dẫn đầu. Tâm thống lĩnh. Tâm hoàn thành. Nếu khi nói hoặc làm với tâm bất thiện, thì do nói và làm với tâm bất thiện ấy, nên đau khổ luôn luôn theo mình, ví như bánh xe lăn theo dấu chân con bò kéo xe vậy.

Trích từ Dhammapada Những Pháp Dẫn Đến Niết Bàn – Sư Hộ Giới (Rakkhitasīla Bhikkhu) dịch Việt theo Dhammapada nguyên tác tiếng Myanmar của tác giả U Shwe Aung


XIN TÁM GIỚI VÀ NGHI LỄ NGUYỆN

 

THERAVĀDA - PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY

 

NGHI LỄ NGUYỆN

         

“Tôi bắt đầu bước đi theo trên con đường mà đức Phật và các đệ tử của ngài đã đi.

Một kẻ biếng nhác sẽ không thể nào theo nổi.

Xin nguyện cho năng lượng của tôi được tràn đầy.

Xin nguyện cho tôi được thành công.”

 

BÀI SÁM HỐI

 

Kính bạch Ngài (3 lần), những lỗi lầm qua thân, khẩu, ý là những vi phạm con đã lỡ làm.

Và để miễn khỏi những điều báo phạt,

con xin chấp tay cung kính cúi đầu đảnh lễ đến 3 ngôi Tam Bảo quý cao:

Đức Phật Bảo, Đức Pháp Bảo, Đức Tăng Bảo.

Con cầu nguyện lần thứ nhất,

lần thứ hai,

lần thứ ba.

 

Bằng sự lễ bái này, xin cho con kể từ nay trở về sau được thoát khỏi bốn cõi dữ, 3 tai hoạ, 8 nghịch cảnh, 5 kẻ thù, 4 sự thiếu hụt, 5 thống khổ.

Và nguyện cho con vào kiếp sống cuối cùng sớm chứng ngộ 4 đạo, 4 quả và Niết bàn tối thượng, bạch Ngài.

 

 BÀI XIN 8 GIỚI

 

Tiếng Pali

Ahaṃ [*] Bhante, tisaraṇena saha atthanga samanaṃ gataṃ uposatha sīlaṃ dhammaṃ yācāmi, anuggahaṃ katvā sīlaṃ detha me, Bhante.

 

- Dutiyampi, ahaṃ Bhante, tisaraṇena saha atthanga samanaṃ gataṃ uposatha sīlaṃ  dhammaṃ yācāmi, anuggahaṃ katvā sīlaṃ detha me, Bhante.

 

- Tatiyampi, ahaṃ Bhante, tisaraṇena saha atthanga samanaṃ gataṃ uposatha sīlaṃ  dhammaṃ yācāmi, anuggahaṃ katvā sīlaṃ detha me, Bhante.

 

ÐÐ:- Yamahaṃ vadāmi, taṃ vadehi.

 

Gt:- Āma Bhante.

 

Nghĩa tiếng Việt:

-     Kính bạch Ðại Ðức, con xin thọ trì Tam quy cùng bát giới. Kính xin Ngài từ bi tế độ truyền Tam quy cùng bát giới cho con.

 

-     Kính bạch Ðại Ðức ... lần thứ nhì... lần thứ ba.

 

-     Xong, đợi Đại Đức nói một câu có nghĩa là: “Sư đọc như thế nào, con đọc đúng như thế ấy”

 

-     Phật tử trả lời: Thưa vâng Đại Đức.

 

ÐÐ:- Yamahaṃ vadāmi, taṃ vadehi.

 

Gt:- Āma Bhante.

 

 

PHÉP THỌ TAM QUY

 

ÐÐ:- Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammāsam-buddhassa(3 lần).

 

Buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi.

Dhammaṃ saraṇaṃ gacchāmi.

Saṃghaṃ saraṇaṃ gacchāmi.

 

- Dutiyampi Buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi.

- Dutiyampi Dhammaṃ saraṇaṃ gacchāmi.

- Dutiyampi Saṃghaṃ saraṇaṃ gacchāmi.

 

- Tatiyampi Buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi.

- Tatiyampi Dhammaṃ saraṇaṃ gacchāmi.

- Tatiyampi Saṃghaṃ saraṇaṃ gacchāmi.

 

ÐÐ:- Tisaraṇagamanaṃ paripuṇṇaṃ

 

Gt:- Āma Bhante.

 

Nghĩa tiếng Việt

Con đem hết lòng thành kính đảnh lễ Ðức Thế Tôn, bậc A-ra-hán, bậc Chánh Ðẳng Giác.

- Con đem hết lòng thành kính xin quy y Phật.

- Con đem hết lòng thành kính xin quy y Pháp.

- Con đem hết lòng thành kính xin quy y Tăng.

- ... Lần thứ nhì.

- ... Lần thứ ba.

Sau khi Đại đức đọc “Phép quy y Tam bảo đầy đủ chỉ có bấy nhiêu.”

 

Giới tử đọc: Āma Bhante.

 

TỤNG 8 GIỚI

 

1- Pānātipātā veramaṇisikkhāpadaṃ samādiyāmi

      Con xin thọ trì điều học, có tác ý tránh xa sự sát sanh.

2- Adinadānā veramaṇisikkhāpadaṃ samādiyāmi.

Con xin thọ trì điều học, có tác ý tránh xa sự trộm cắp

 

3- Abrahmacariyā veramaṇisikkhāpadaṃ samādiyāmi.

Con xin thọ trì điều học, có tác ý tránh xa sự hành dâm

 

    4- Musāvādā veramaṇisikkhāpadaṃ samādiyāmi

Con xin thọ trì điều học, có tác ý tránh xa sự nói dối.

 

     5- Surā-meraya-majja-pamādaṭṭhānā veramaṇi-sikhāpadaṃ samādiyāmi.

Con xin thọ trì điều học, có tác ý tránh xa sự uống rượu và các chất say là nhân phát sanh sự dể duôi.

 

     6- Vikālabhojanā veramaṇisikkhāpadaṃ samādiyāmi.

Con xin thọ trì điều học, có tác ý tránh xa sự dùng vật thực phi thời (quá 12 giờ trưa).

 

      7- Nacca-gīta-vādita-visūka-dassana-māla-gandha-vilepana-dhāraṇa-maṇḍana-vibhūsanaṭṭhānā veramaṇisikkhāpadaṃ samādiyāmi.

Con xin thọ trì điều học, có tác ý tránh xa sự múa, hát, thổi kèn, xem ca hát, thoa vật thơm, dồi phấn, đeo tràng hoa.

    

 8- Uccāsayana-mahāsayanā veramaṇi-sikkhāpadaṃ samādiyāmi.

Con xin thọ trì điều học, có tác ý tránh xa chỗ nằm ngồi nơi quá cao và xinh đẹp.

 

ÐÐ:- Tisaraṇena saha aṭṭhaṅgasamannāgataṃ uposadhasīlaṃ dhammaṃ sādhukaṃ katvā, appamādena sampadehi. (*Nếu nhiều giới tử thay sampādehi bằng sampādetha). 

 

- Con đã thọ trì Tam quy cùng tám giới, con nên cố gắng giữ gìn cho được trong sạch làm nền tảng, để hoàn thành mọi phận sự Tứ thánh đế, bằng pháp không dể duôi, tiến hành Tứ niệm xứ.

Đợi Đại Đức kết thúc câu

 

 ÐÐ:– Chúng sinh tái sanh cõi trời nhờ giữ giới.

Chúng sinh đầy đủ của cải nhờ giữ giới.

Chúng sinh giải thoát, Niết Bàn nhờ giữ giới.

Vậy, con nên giữ gìn giới cho trong sạch!

 

– Lành thay! Lành thay!

Xong Giới tử trả lời Āma Bhante.


GIỮ HẠNH TỪ BI:

 

Tôi nguyện giữ hạnh từ bi trong hành động.

Tôi nguyện giữ hạnh từ bi trong lời nói.

Tôi nguyện giữ hạnh từ bi trong ý nghĩ thầm kín.

 

Vì lầm lạc và không minh mẫn nên tôi đã có hành động, lời nói, ý nghĩ sai lầm, làm thiệt hại và gây ra đau khổ cho người khác. Xin tất cả hãy mở rộng lòng từ bi và trí tuệ tha thứ cho tôi.

 

Tôi xin thành thật tha thứ cho tất cả những ai đã có hành động, lời nói, và ý nghĩ sai lầm, làm thiệt hại và gây ra đau khổ cho tôi.

Tôi xin thành thật tha thứ cho chính tôi, và nguyện từ nay làm lành, lánh dữ, giữ tâm trong sạch .

 

LỜI PHÁT NGUYỆN:

 

Nguyện cho tôi có đầy đủ sức khỏe, an vui, hạnh phúc, thân không tật bệnh, tâm không phiền não, hàng ngày an vui, không gặp chướng ngại.

 

Nguyện cho Thầy Tổ Tôi, và các bậc ân nhân của tôi, có đầy đủ sức khỏe, an vui, hạnh phúc, thân không tật bệnh, tâm không phiền não, hàng ngày an vui, không gặp chướng ngại.

 

Nguyện cho Cha Mẹ Tôi có đầy đủ sức khỏe, an vui, hạnh phúc, thân không tật bệnh, tâm không phiền não, hàng ngày an vui, không gặp chướng ngại.

 

Nguyện cho những người trong gia đình tôi có đầy đủ sức khỏe, an vui, hạnh phúc, thân không tật bệnh, tâm không phiền não, hàng ngày an vui, không gặp chướng ngại.

 

Nguyện cho thân bằng quyến thuộc tôi có đầy đủ sức khỏe, an vui, hạnh phúc, thân không tật bệnh, tâm không phiền não, hàng ngày an vui, không gặp chướng ngại.

 

Nguyện cho bạn bè tôi có đầy đủ sức khỏe, an vui, hạnh phúc, thân không tật bệnh, tâm không phiền não, hàng ngày an vui, không gặp chướng ngại.

 

Nguyện cho những người cùng sở làm với tôi có đầy đủ sức khỏe, an vui, hạnh phúc, thân không tật bệnh, tâm không phiền não, hàng ngày an vui, không gặp chướng ngại.

 

Nguyện cho những người không quen biết tôi có đầy đủ sức khỏe, an vui, hạnh phúc, thân không tật bệnh, tâm không phiền não, hàng ngày an vui, không gặp chướng ngại.

 

Nguyện cho những người không có thiện cảm với tôi có đầy đủ sức khỏe, an vui, hạnh phúc, thân không tật bệnh, tâm không phiền não, hàng ngày an vui, không gặp chướng ngại.

 

Nguyện cho tất cả chúng sanh có đầy đủ sức khỏe, an vui, hạnh phúc, thân không tật bệnh, tâm không phiền não, hàng ngày an vui, không gặp chướng ngại.

Nguyện người tròn hạnh phúc,

Và Chư Thiên che trở,

Nhờ tất cả uy Phật,

Mong người được an lành.

 

Nguyện người tròn hạnh phúc,

Và Chư Thiên che trở,

Nhờ tất cả uy Pháp,

Mong người được an lành.

 

 

Nguyện người tròn hạnh phúc,

Và Chư Thiên che trở,

Nhờ tất cả uy Tăng,

Mong người được an lành.

 

‘‘Sādhu !’ ‘Sādhu !’ ‘Sādhu’ ! ’ ‘Lành thay’’ !

 

 

 

***