Tuesday, August 9, 2016

Năm Chướng Ngại Trong Tu Thiền

Chướng ngại chính cản trở sự thành công trong hành thiền và phát tuệ giải thoát thường có dạng của một trong năm loại triền cái hay chướng ngại. “Triền cái” là sự ngăn che, làm cho vướng mắc trong vòng luân hồi. Tiếng Phạn là “Nìvarana”, và tiếng Anh dịch là “Hindrances”. Toàn thể pháp hành đưa đến Giác ngộ có thể được diễn tả như một nỗ lực để vượt qua năm chướng ngại nầy, đầu tiên là tạm thời đè nén chúng để đắc Thiền-na và phát tuệ minh sát, rồi dần dần chế ngự chúng một cách vĩnh viễn qua công phu phát triển Bát Chánh Ðạo. Năm chướng ngại đó là gì? Ðó là :

  • – Tham dục (Kàmacchanda, Sense desire)
  • – Sân hận (Vyàpàda, Ill will)
  • – Hôn trầm (Thìna-middha, Sloth and Torpor)
  • – Trạo cử (Uddhacca-kukkucca, Restlessness)
  • – Hoài nghi (Vicikicchà, Doubt)
Trong nhiều bài kinh, Đức Phật giảng dạy tóm tắt việc chế ngự năm triền cái ấy như sau:
“… Vị Tỳ-khưu lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch, như rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị ấy ngồi kiết-già, lưng thẳng tại chỗ nói trên và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên. Từ bỏ trạo cử hối tiếc, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử hối tiếc. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với các thiện pháp…”

Ở đây, trong bài nầy, chúng tôi xin giải thích thêm về năm chướng ngại ấy trong tiến trình tu tập hành thiền của người con Phật.

1. THAM DỤC là để chỉ trạng thái mong cầu dục lạc qua năm giác quan của hình dáng, âm thanh, mùi hương, vị nếm, và cảm xúc. Tham dục đặc biệt không bao gồm các ước nguyện được hạnh phúc qua căn thức thứ sáu là tâm ý.
Trong một dạng cực đoan, tham dục là lòng mong ước mãnh liệt để tìm khoái lạc trong những hoạt động tình dục, thức ăn ngon hoặc âm nhạc du dương. Nó cũng bao gồm lòng ham muốn thay thế các cảm giác khó chịu hay đau đớn bằng các cảm giác dễ chịu, có nghĩa là lòng ham muốn được có cảm giác thoải mái.
Đức Phật ví sự tham dục như thể đi vay nợ. Các sự khoái lạc ta có qua năm căn đều phải trả lại qua các đau khổ về biệt ly, mất mát hoặc sự trống rỗng đói khát, vốn sẽ theo đuổi mãnh liệt sau khi các khoái lạc đã bị tiêu dùng. Cũng như bất cứ món nợ nào cũng phải trả thêm lời, và như thế Ðức Phật dạy rằng sự khoái lạc đó thật ra là nhỏ bé so với các đau khổ phải hoàn trả.
Trong khi hành thiền, thiền sinh vượt qua lòng tham dục bằng cách buông xả mọi quan tâm về thân thể và hoạt động của năm giác quan. Nhiều người cho rằng năm giác quan đó hiện diện để phục vụ và bảo vệ tấm thân, nhưng thật ra, tấm thân nầy hiện hữu để phục vụ cho năm giác quan, vì chúng dàn dựng thế giới để tìm cầu khoái lạc. Thật thế, Đức Phật đã từng bảo rằng: “Năm giác quan chính là thế giới”, và để thoát ra thế giới, để vui hưởng hạnh phúc siêu thế của Thiền-na (jhàna), chúng ta phải biết xả ly các quan tâm về thân và năm giác quan của nó.

Khi vượt qua được tham dục, tâm của thiền sinh sẽ không còn để ý đến các hứa hẹn của khoái lạc, và cũng không còn để ý đến sự khoan khoái của cơ thể. Thân thể dường như tan biến, và năm giác quan dường như đóng lại. Sự khác biệt giữa khi còn tùy thuộc hoạt động của năm giác quan và khi vượt qua chúng cũng như thể sự khác biệt khi ta nhìn ra bên ngoài qua khung cửa sổ và khi ta nhìn vào gương soi. Tâm ta khi được giải thoát khỏi hoạt động của năm giác quan, sẽ có khả năng nhìn rõ ràng vào bên trong và thấy rõ bản chất thật sự của nó. Từ đó, trí tuệ nảy sinh để cho ta biết được ta là ai, từ đâu và tại sao.

2. SÂN HẬN là để chỉ trạng thái mong muốn trừng phạt, gây khổ hoặc tàn phá. Nó bao gồm lòng thù ghét một người hoặc một hoàn cảnh nào đó; và vì nó tạo ra một năng lực mãnh liệt, nó rất hấp dẫn và tạo lôi cuốn. Có lúc, nó có vẻ như được biện minh vì nó có một sức mạnh làm băng hoại khả năng phán xét vô tư của ta. Nó cũng bao gồm lòng thù hận tự thân, thường được xem như một mặc cảm tội lỗi, để tước đoạt mọi khả năng tạo hạnh phúc. Trong khi hành thiền, lòng sân hận thường hiện ra như sự chán ghét vào chính đối tượng thiền quán, bỏ rơi nó, để hướng sự chú tâm của ta lang thang qua các nơi khác.
Đức Phật ví lòng sân hận như thể người bị bệnh. Bệnh tật cản trở sự tự do và hạnh phúc của sức khỏe. Cũng như thế, lòng sân hận cản trở sự tự do và hành phúc của an bình.
Sân hận được vượt qua bằng các áp dụng lòng Từ mẫn. Khi có sự sân hận đối với người nào, lòng Từ mẫn dạy cho ta thấy được các sự kiện khác về người ấy, ngoài sự kiện đang làm ta đau khổ, để thấy rằng tại sao người ấy làm khổ ta – thông thường, giúp ta thấy được ngay chính người ấy cũng đang bị đau khổ – và khuyến khích ta bỏ qua các đau khổ của chính mình, và nhìn người khác với lòng từ bi.
Tuy nhiên, nếu ta chưa làm được như thế, lòng Từ mẫn cho chính bản thân cũng sẽ giúp cho ta không còn sân hận vào tự thân, chấm dứt tự làm khổ mình bằng các ký ức về những hành động đau khổ. Như thế, khi có sân hận vào ngay chính mình, Từ mẫn sẽ giúp ta thấy được lỗi lầm của chính mình, khuyến khích ta tự tha thứ cho chính mình, giúp ta học được qua các bài học đó, rồi buông xả chúng. Kế đến, nếu ta có lòng sân hận về đối tượng tham thiền – thường là lý do khiến thiền sinh không được an bình – lòng từ mẫn sẽ giúp ta bám sát và nâng niu đối tượng đó một cách trìu mến và vui thích.

Cũng như bà mẹ thường có bản tính tự nhiên thương yêu đứa con, thiền sinh có thể đối xử với hơi thở của mình với các cảm giác tương tự. Như thế, thiền sinh không thể nào quên lãng hơi thở của mình – một đối tượng tham thiền – cũng như thể bà mẹ không thể nào bỏ quên đứa con trong khi vào chợ. Từ đó, thiền sinh không thể nào xao lãng hơi thở vì một ý nghĩ nào đó, cũng như bà mẹ không thể nào buông bỏ đứa con mà bà đang bồng bế trong tay. Khi lòng sân hận được vượt qua, ta sẽ tạo được một liên hệ lâu bền với mọi người, an vui với đối tượng tham thiền, và từ đó ta sẽ hoàn toàn thấm nhập vào Thiền-na.

3. HÔN TRẦM là để chỉ trạng thái nặng nề của cơ thể và mờ tối của tâm thức, kéo ta vào một sự lừ đừ và chán nản. Ðức Phật ví nó như thể bị giam vào một phòng tối, chật chội, không thể di chuyển tự do, trong khi bên ngoài là trời nắng sáng. Trong khi hành thiền, nó làm cho ta chỉ có những giác niệm rời rạc, yếu ớt và từ đó đưa đến sự ngủ gục trong lúc thiền mà ta lại không biết!
Hôn trầm được vượt qua bằng cách làm khơi dậy năng lực tinh tấn. Nguồn năng lực lúc nào cũng có sẵn nhưng ít người biết cách khai thác nó. Đặt một mục đích, một mục đích vừa phải, là một cách khôn ngoan và hữu hiệu để phát sinh năng lực, để tạo nhiều hứng khởi vào công việc trong tay. Một đứa bé con thường có một sự thích thú tự nhiên, và tiếp theo là năng lực, bởi vì thế giới bên ngoài rất mới lạ đối với em. Như thế, nếu chúng ta học cách nhìn vào đời sống của chính ta, hoặc pháp thiền của ta, bằng tâm trí của một người mới bắt đầu (“sơ tâm”), ta sẽ luôn luôn nhìn nó qua những góc nhìn mới lạ và những điều khả thi tươi tắn, với nhiều nghị lực và tinh tấn, xa rời trạng thái buồn chán.
Tương tự, ta có thể tạo hứng khởi vào điều đang làm bằng cách huấn luyện tư tưởng để nhìn được cái đẹp trong chuyện thông thường. Từ đó, phát sinh sự thích thú, tránh khỏi trạng thái nửa sống nửa chết của hôn trầm.

Tâm thức có hai nhiệm vụ chính: “cái làm” (tác nhân) và “cái biết” (tri nhân). Hành thiền là để làm an dịu “cái làm” để đạt đến an định tuyệt đối trong khi vẫn duy trì “cái biết”. Hôn trầm sẽ xảy ra khi thiền sinh bất cẩn, làm an dịu “cái làm” lẫn “cái biết”, không có khả năng để phân biệt chúng.
Hôn trầm là một vấn đề rất thông thường, từ từ lan rộng ra rồi bao trùm tâm thiền sinh. Một thiền sinh thiện xảo phải biết canh chừng, phát hiện ngay những dấu hiệu đầu tiên của hôn trầm, nhận định chúng và phải có phản ứng đối phó kịp thời. Cũng như khi ta đến ngã ba đường, ta có thể chọn một đường cho tâm thức xa rời sự hôn trầm. Hôn trầm là một trạng thái khó chịu của thân và tâm, quá cứng đọng không thể đi vào sự an lạc của Thiền-na, và quá mù quáng không thể khám phá ra các Tuệ quán. Tóm lại, đây hoàn toàn là một sự phí phạm thì giờ.

4. TRẠO CỬ là để chỉ trạng thái tâm như khỉ vượn chuyền cành, không bao giờ chịu ở yên tại bất cứ chỗ nào. Nó được tạo ra từ trạng thái tìm lỗi trong tâm, không bao giờ chịu thỏa mãn với sự việc như thật, và như thế phải phóng ra ngoài tìm những hứa hẹn tốt hơn, lúc nào cũng nhìn sang nơi khác.
Đức Phật ví trạo cử như một tên nô lệ, tiếp tục chạy nhảy theo lệnh của ông chủ khắc nghiệt luôn luôn đòi hỏi sự toàn hảo, và như thế không bao giờ cho phép nó được dừng nghỉ.
Trạo cử được vượt qua bằng cách phát triển sự biết đủ (tri túc), là đối nghịch với sự tìm lỗi. Ta học cách an vui đơn giản qua sự hài lòng với chút ít, chứ không phải lúc nào cũng đòi hỏi cho nhiều. Ta cảm thấy biết ơn trong giây phút hiện tại, chứ không phải moi tìm các khiếm khuyết của nó. Như một thí dụ, trạo cử khi hành thiền thường là sự nóng nảy mong sao để tiến nhanh vào giai đoạn kế tiếp. Thế nhưng, cấp độ tiến triển nhanh nhất thường xảy ra cho những thiền sinh nào chỉ biết bằng lòng với những gì họ đạt được ngay trong hiện tại. Vì có sự tri túc, hài lòng đó đã làm chín muồi để đi vào giai đoạn kế tiếp.
Cho nên, ta phải cẩn thận về thái độ “làm nhanh cho xong” và thay vào đó, cần phải học cách an nghỉ trong trạng thái hài lòng và tri túc. Làm như thế, “cái làm” sẽ tan biến và công phu hành thiền sẽ nở hoa.
Hối hận là một trạng thái đặc biệt của trạo cử, là nghiệp quả của các hành động bất thiện. Cách duy nhất để vượt qua hối hận, sự trạo cử do lương tâm cắn rứt, là phải giữ gìn giới đức, tập sống tử tế, khôn ngoan và dịu dàng. Một người không có đạo đức hoặc sống buông lung thì không thể nào có được các kết quả sâu sắc trong khi hành thiền.

5. HOÀI NGHI là để chỉ trạng thái nội tâm đặt nhiều câu hỏi rối ren trong lúc thiền sinh cần yên lặng để tiến sâu hơn vào tâm thức. Nghi ngờ tạo ra câu hỏi về chính khả năng của ta: “Không biết tôi có làm được việc nầy không?”, hoặc nghi vấn về pháp hành: “Không biết cách nầy có đúng không?”, hoặc ngay cả nghi vấn về ý nghĩa: “Cái gì đây?”. Cần phải nhớ rằng các câu hỏi đó là chướng ngại trong lúc hành thiền, bởi vì chúng đặt ra không đúng thời, và vì thế trở thành sự xâm chiếm, làm lu mờ tri kiến thanh tịnh.
Đức Phật ví nghi ngờ như thể bị lạc trong sa mạc, không nhận ra được các mốc điểm. Sự nghi ngờ đó được vượt qua bằng cách thu thập các lời hướng dẫn rõ ràng, có một bản đồ tốt, để giúp ta thấy được các mốc điểm vi tế trong vùng đất không quen thuộc của tâm thiền sâu kín, và từ đó biết được con đường phải đi. Nghi ngờ về khả năng của chính mình có thể được vượt qua bằng cách nuôi dưỡng lòng tự tin với một vị thiền sư tốt. Vị thiền sư có thể ví như một huấn luyện viên thể thao có khả năng thuyết phục các vận động viên rằng họ có thể thành công.

Đức Phật dạy rằng mỗi người chúng ta có thể, và sẽ đắc Thiền-na và Giác ngộ nếu ta thực hành theo các hướng dẫn của Ngài một cách cẩn thận và kiên nhẫn. Chỉ có một điều không chắc chắn là “không biết đến khi nào”! Kinh nghiệm hành thiền cũng giúp ta vượt qua các nghi ngờ về khả năng của ta và về con đường hành đạo. Khi ta tự thực chứng được các giai đoạn tốt đẹp của con đường, ta khám phá rằng thật ra ta có khả năng cao nhất, và đây đúng là con đường đưa ta đến mục đích đó.
Nghi ngờ — trong dạng kiểm tra thường xuyên : “Đây có phải là Thiền-na? Tôi được kết quả đến đâu?” — được vượt qua bằng cách nhận thức rằng các câu hỏi như thế nên hoãn lại cho đến lúc cuối, trong những phút cuối của buổi thiền. Vị bồi thẩm tòa án chỉ có quyết định trong ngày cuối phiên tòa, khi các tang chứng đã được trình bày. Cũng như thế, một thiền sinh thiện xảo chỉ biết yên lặng thu nhặt mọi bằng chứng, và chỉ xét duyệt trong những phút cuối để khám phá ý nghĩa của nó. Trong hành thiền, nghi ngờ hoàn toàn tan biến khi tâm thức hoàn toàn tin tưởng vào sự vắng lặng, không còn gây rối loạn với các đối thoại, các lời thì thầm bên trong. Cũng như thể ta có được một tài xế tài ba, ta hoàn toàn tin tưởng người đó, và ta ngồi yên lặng quán sát ghi nhận trên suốt cuộc hành trình.
*
Khi hành thiền, nếu có vấn đề xảy ra thì đó là vì có sự hiện diện của một trong Năm Triền Cái nầy, hoặc là sự kết hợp của chúng. Như thế, khi thiền sinh gặp khó khăn, thiền sinh nên dùng các định nghĩa như trên của Năm Triền Cái như là bảng kiểm tra để xác định vấn đề. Từ đó, thiền sinh biết được cách hóa giải thích hợp, áp dụng cẩn thận, vượt qua trở ngại để tiến vào mức thiền cao sâu hơn.
Khi hoàn toàn vượt qua được năm sự ngăn che đó, hàng rào giữa thiền sinh và sự an lạc của Thiền-na sẽ không còn hiện hữu nữa. Do đó, sự kiểm chứng chắc chắn nhất để biết Năm Triền Cái nầy đã thật sự được vượt qua là làm sao để phát triển được khả năng của thiền sinh để đem tâm an định vào các tầng Thiền-na.


Bình Anson, Perth, Tây Úc, tháng 7-2004
(Dựa theo bài “The Five Hindrances” của Thiền sư Brahmavamso)

Thursday, August 4, 2016

Người xuất gia mong ước những gì,

 và làm sao thành tựu được mong ước của mình? Trong bài kinh Ước nguyện (Àkankheyyasutta) thuộc tuyển tập Trung Bộ, Đức Phật nêu ra mười hai mong ước “chính đáng” của người xuất gia nhằm khuyến khích các học trò mình nỗ lực tu tập đạo lý giác ngộ. Có mong ước chính đáng tức sẽ có nỗ lực chính đáng và kết quả chính đáng. Mười hai mong ước gồm:

1. Mong được các đồng phạm hạnh thương mến, yêu quý và tôn trọng.
2. Mong nhận được tứ sự cúng dường: y phục, món ăn khất thực, sàng tọa và dược phẩm trị bệnh.
3. Mong những vị hiến cúng tứ sự cúng dường được quả báo, lợi ích lớn.
4. Mong bà con huyết thống khi mệnh chung nghĩ tưởng đến mình với tâm hoan hỷ nhờ vậy được quả báo, lợi ích lớn.
5. Mong nhiếp phục lạc và bất lạc.
6. Mong nhiếp phục khiếp đảm và sợ hải.
7. Mong chứng được bốn Thiền, thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú.
8. Mong chứng được các cảnh giới giải thoát tịch tĩnh, siêu thoát sắc giới, thuộc vô sắc giới.
9. Mong chứng quả Dự lưu.

10. Mong chứng quả Nhất lai.
11. Mong chứng quả Bất lai.
12. Mong thành tựu lục thông (thần túc thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, túc mạng minh, thiên nhãn minh, lậu tận minh), hướng đến diệt trừ lậu hoặc, chấm dứt khổ đau.
Trên đây là mười hai mong ước “chính đáng” của người xuất gia. Đáng chú ý là bài kinh đề cập các ước nguyện của người xuất gia và dùng các mệnh đề giả định để khẳng định một luận đề: Có làm thì có kết quả.
Chẳng hạn, luận đề thứ nhất nêu như sau:

“Này các Tỷ- kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Mong rằng ta được các đồng phạm hạnh thương mến, yêu quý, cung kính và tôn trọng!”, Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật, kiên trì, nội tâm tịch tĩnh, không gián đoạn Thiền định, thành tựu quán hạnh, thích sống tại các trú xứ không tịnh”. Như vậy, vấn đề không phải nằm ở chỗ mong ước mà chính là cách thức làm thế nào để thực hiện mong ước. Người xuất gia có thể nuôi dưỡng các ước mong chính đáng của mình nhưng cần phải biết cách biến mong ước thành hiện thực. Nói khác đi, Đức Phật khuyên người xuất gia cần phải nuôi dưỡng các tâm lý ước mong chính đáng để thúc đẩy . chí tự độ và độ tha, nhưng trên hết cần phải hiểu rằng sự chuyên tâm hành trì giáo lý giới- định- tuệ chính là cách duy nhất để người xuất gia hoàn thành các ước mong chính đáng của mình. Sau đây là toàn văn lời Phật dạy1: “Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Mong rằng ta được các đồng phạm hạnh thương mến, yêu quý, cung kính và tôn trọng!”, Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật, kiên tr., nội tâm tịch tĩnh, không gián đoạn Thiền định, thành tựu quán hạnh, thích sống tại các trú xứ không tịnh.

Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Mong rằng ta được các vật dụng như y phục, các món ăn khất thực, sàng tọa và các dược phẩm trị bệnh!”, Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật… trú xứ không tịnh. Này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo có ước nguyện: “Mong rằng ta nay hưởng thọ các vật dụng như y phục, các món ăn khất thực, sàng tọa và các dược phẩm trị bệnh! Mong rằng hành động của những vị tạo ra các vật dụng ấy được quả báo lớn, được lợi ích lớn!”, Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật… trú xứ không tịnh.
Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Mong rằng những bà con huyết thống với ta, khi họ chết và mệnh chung, nghĩ đến ta với tâm hoan hỷ và nhờ vậy được quả báo lớn, lợi ích lớn!”, Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật… trú xứ không tịnh.

Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Mong rằng ta nhiếp phục lạc và bất lạc, chớ không phải bất lạc nhiếp phục ta. Mong rằng ta sống, luôn luôn nhiếp phục bất lạc được khởi lên!”, Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật… trú xứ không tịnh. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Mong rằng ta nhiếp phục khiếp đảm và sợ hãi, chớ không phải khiếp đảm và sợ hãi nhiếp phục ta! Mong rằng ta sống, luôn luôn nhiếp phục khiếp đảm và sợ hãi được khởi lên!”, Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật… trú xứ không tịnh.

Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Mong rằng, tùy theo . muốn, không có khó khăn, không có mệt nhọc, không có phí sức, ta chứng được bốn Thiền, thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú!”, Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật… trú xứ không tịnh. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Có những giải thoát tịch tĩnh, siêu thoát Sắc giới, thuộc Vô sắc giới. Mong rằng ta có thể cảm xúc với thân và sống an trú trong cảnh giới ấy!”, Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật… trú xứ không tịnh.

Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Mong rằng ta trừ diệt ba kiết sử, chứng quả Dự lưu, không c.n bị đọa lạc, chắc chắn hướng đến Chánh giác!”, Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật… trú xứ không tịnh.

Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Mong rằng trừ diệt ba kiết sử, làm cho muội lược tham, sân, si, ta chứng được Nhứt lai, chỉ phải trở lại đời một lần nữa để đoạn tận khổ đau!”, Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật… trú xứ không tịnh. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Mong rằng, trừ diệt năm hạ phần kiết sử, ta được hóa sanh, chứng được Niết-bàn ngay tại cảnh giới ấy, không còn trở lui thế giới này nữa!”, Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật… trú xứ không tịnh.
Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Mong rằng ta chứng được các loại thần thông! Một thân ta hiện ra nhiều thân, nhiều thân ta hiện ra một thân; ta hiện hình, biến hình đi ngang qua vách, qua thành, qua núi như đi ngang hư không, ta độn thổ trồi lên ngang qua đất liền như ở trong nước; ta đi trên nước không chạm như trên đất liền; ta ngồi kiết già đi trên hư không như con chim; với bàn tay, ta chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy; ta có thể, thân ta có thần thông bay cho đến Phạm Thiên!”, Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật… trú xứ không tịnh.

Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Mong rằng, với thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân, ta có thể nghe hai loại tiếng, chư Thiên và loài Người, ở xa hay ở gần!”, Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật… trú xứ không tịnh.

Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Mong rằng với tâm của ta, ta biết được tâm của các chúng sanh và loài Người. Tâm có tham, ta biết tâm có tham. Tâm không tham, ta biết tâm không tham. Tâm có sân, ta biết tâm có sân. Tâm không sân, ta biết tâm không sân. Tâm có si, ta biết tâm có si. Tâm không si, ta biết tâm không si. Tâm chuyên chú, ta biết tâm chuyên chú. Tâm tán loạn, ta biết tâm tán loạn. Tâm đại hành, ta biết tâm đại hành. Tâm không đại hành, ta biết tâm không đại hành. Tâm chưa vô thượng, ta biết tâm chưa vô thượng. Tâm vô thượng, ta biết tâm vô thượng. Tâm Thiền định, ta biết tâm Thiền định. Tâm không Thiền định, ta biết tâm không Thiền định. Tâm giải thoát, ta biết tâm giải thoát. Tâm không giải thoát, ta biết tâm không giải thoát!”, Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật… các trú xứ không tịnh.

Này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo có ước nguyện:“Mong rằng ta nhớ đến các đời sống của quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, một trăm đời một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp, ta nhớ rằng: “ Tại chỗ kia ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, thọ mạng đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh chỗ nọ Tại chỗ ấy ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế  này, thọ khổ lạc như thế này, thọ mạng đến mức như thế này . Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây !”. Tỳ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật …trú xứ không tịnh.

Này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo có ước nguyện: “ Mong rằng với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, ta thấy được sự sống và sự chết của chúng sanh. Ta biết rõ  rằng, chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kè bất hạnh đều do hạnh nghiệp của chúng . Các Tôn giả chúng sanh nào làm những ác hạnh về thân, về lời và về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến, những người này sau khi thân hoại  mệnh chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ địa ngục. Còn các Tôn giả, chúng sanh nào làm những thiện hạnh về thân, về lời và về ý, không phỉ bán các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiế , những người này sau khi thân hoại, mạng chung, được sanh lên các thiện chú, cõi Trời trên đời này. Như vậy ta với thiên nhãn thuần tịnh , siêu nhân , thấy sự sống chết của chúng sanh, biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ , kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh , đều do hạnh nghiệp của họ !”. Tỳ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật …trú xứ không tịnh.

Này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo có ước nguyện : “ Với sự diệt trừ các lậu hoặc, sau khi tự tri, tự chứng, ta chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại, tâm giải thoát , tuệ giải thoát không có lậu hoặc!” Tỳ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật, kiên trì, nội tâm tịch tĩnh, không gián đoạn Thiền định, thành tựu quán hạnh thích sống tại các trú xứ không tịnh”.

Vài nơi trong kinh tạng Pàli 2, Đức Phật dùng hình ảnh con gà mái kiên trì ấp trứng để lưu nhắc các Tỷ-kheo chuyên tâm trong vấn đề thực hành đạo lý giải thoát. Vì chỉ có thái độ kiên trì tu tập và thực hành đạo lý giải thoát mới giúp cho người xuất gia thành tựu sở nguyện tự độ và độ tha. Người xuất gia có thể khởi lên các mong ước chính đáng nhưng phải chuyên tâm tu tập giáo lý giới-định-tuệ thì mọi ước nguyện mới thành tựu. Tựa như con gà mái thường xuyên ấp nằm, ấp nóng, ấp dưỡng các quả trứng một cách kiên trì và đúng đắn thì đến lúc các con gà con sẽ tự phá vỡ vỏ trứng và thoát ra ngoài một cách an toàn, dù cho nó có khởi ý muốn, mong các chú gà con sẽ nở ra an toàn hay không.

Chú thích:
1. Kinh Ước nguyện, Trung Bộ.

2. Kinh Tâm hoang vu, Kinh Hữu học, Trung Bộ; Kinh Sự tu tập, Tăng Chi Bộ.

Tuesday, August 2, 2016

Thiền trong cuộc sống

 Thiền để được Định, Định sẽ tuệ giác được các hiện tượng tâm lý và hiện tượng giới. Nói cách khác, Thiền định là sự nhận diện, biết rõ các hiện tượng sự vật, biết rõ các hành nghiệp của bản thân trong đời sống thường ngày.
Cuộc đời tu hành của Thiện Tâm bao năm dài cũng chỉ giống một ngày, bửa củi, nhóm lửa, gánh nước và nấu cơm. Cứ như vậy lặng lẽ làm việc và học hành. Nhưng từ trước tới nay Sư Giới Tịnh không chỉ dạy gì cho Thiện Tâm, thậm chí đến một câu nữa lời cũng không có.
Một hôm Thiện Tâm đến thưa Sư:

"Thưa Sư Phụ! Từ khi đệ tử xuất gia theo Thầy tu học đến nay đã nhiều năm rồi, nhưng con chưa một lần được Thầy chỉ dạy. Xin Thầy từ bi truyền dạy cho đệ tử yếu chỉ tu hành!"

Sư Giới Tịnh nghe xong liền nói:

"Những lời con vừa nói, thật sự rất oan cho Thầy. Con nghĩ lại xem, từ khi con xuất gia theo Thầy, chẳng phải ngày nào Thầy cũng truyền trao tâm pháp tu hành cho con đó sao?"

Thiện Tâm ngạc nhiên hỏi:

"Đệ tử ngu muội, không biết hằng ngày Thầy đã truyền cho con pháp gì?"

Sư Giới Tịnh hiền từ mỉm cười bảo:

"Con bưng trà cho Thầy thì Thầy uống, con dâng cơm thì Thầy ăn, con chắp tay lễ Thầy thì Thầy gặt đầu đáp lễ. Không một ngày chùng mõi, không phải tất cả đều chỉ bảo con sao?"

Thiện Tâm nghe những lời Thầy nói tức thời lĩnh ngộ được dụng tâm của Thầy, bừng sáng được lý Thiền, thật ra Thiền không ngoài cuộc sống hằng ngày.

Thức luận:
Thiền trong cuộc sống
Thiền để được Định, Định sẽ tuệ giác được các hiện tượng tâm lý và hiện tượng giới. Nói cách khác, Thiền định là sự nhận diện, biết rõ các hiện tượng sự vật, biết rõ các hành nghiệp của bản thân trong đời sống thường ngày.

Thiền không thể tách lìa cuộc sống thường ngày của chúng ta, vì Thiền là sự ứng dụng, là thực nghiệm tỉnh giác, là an lạc của chính thân ta trong cuộc sống. Cũng giống như khi uống Cà Phê chúng ta cảm nhận được vị Cà Phê từ trong nước. Ly nước Cà Phê ấy đã cho chúng ta hương vị của Cà Phê. Như vậy, không thể tách rời nước và Cà Phê, mà phải dung hoà chúng lẫn nhau mới có được ly Cà Phê để uống và cảm nhận hương vị Cà Phê.

Cũng vậy, Thiền định có mặt ngay trong đời sống sinh hoạt hàng ngày. Chính cuộc sống là môi trường để chúng ta thực hành Thiền định, vì thế không phải chỉ có ở nơi sơn lâm cùng cốc, nơi cô liêu vắng vẻ mới chứng ngộ yếu chỉ của thiền, mà kể cả trong công việc hàng ngày: Bửa củi, nhóm lửa, gánh nước và nấu cơm.… với tâm tỉnh lặng, chánh niệm tỉnh giác thì vẫn có thể hội nhập được yếu chỉ của Thiền.

Với chánh niệm tỉnh giác thường xuyên có mặt thì tâm thức sẽ được định tỉnh. Tâm tĩnh lặng thì sẽ có một trạng thái tâm lý thoải mái và hoàn toàn tự tại trong cuộc sống.

Vấn đề tỉnh giác trong cuộc sống hàng ngày Đức Phật dạy:

"Ðệ tử Gotama,
Luôn luôn tự tỉnh giác,
Vô luận ngày hay đêm,
Ý vui niềm bất hại."
"Đệ tử Gotama
Luôn luôn tự tỉnh giác
Không luận ngày hay đêm
Ý vui tu thiền định"
(Pháp Cú 300, 301)

Trong cuộc sống mọi suy nghĩ, lời nói và việc làm của chúng ta, dù ngày hay đêm, khi nào, ở đâu và làm gì nếu có mặt của sự tỉnh giác luôn soi sáng thì sẽ sống an toàn, sống hạnh phúc, an lạc và giải thoát. Có thể xem đây là "Thần dược" để hoá giải các "Độc tố" trong cuộc sống; là pháp nhiệm mầu để hoá giải những bế tắc, khốn đốn, buồn đau của tâm thức; là công thức duy nhất để thành công trong cuộc sống.

Vì thế, chúng ta cần chất liệu Thiền định, tỉnh giác để được an toàn, hạnh phúc, thành công và an lạc giải thoát trong đời sống hàng ngày của chúng ta.